Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ LUẬT SƯ VÀ Ý NGHĨA VỀ SỰ THAM GIA TỐ TỤNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm Luật sư Có thể nói Luật sư không phải là một khái niệm quá mới, và khái niệm này đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều bình diện khác nhau nên có thể hiểu khái niệm này từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, hiện nay chưa có một sự thống nhất nào về định nghĩa Luật sư. Sự khác nhau trong cách hiểu về luật sư không chỉ thể hiện trong khoa học pháp lý giữa các quốc gia, mà còn thể hiện ngay chính trong các văn bản pháp lý và văn bản liên quan đến khoa học pháp lý của Việt Nam.
Khi nhắc đến Luật sư thì có thể hiểu đó là danh từ chỉ người, một chức danh tư pháp độc lập, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và cũng có thể hiểu Luật sư là một nghề thuộc các ngành dịch vụ trong hệ thống ngành nghề quốc gia. Thực tế hiện nay cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm Luật sư : - Quan điểm thứ nhất: Theo các tác giả của Trung tâm ngôn ngữ và văn học Việt Nam thuộc Bộ giáo dục và đào tạo thì Luật sư được hiểu là “người chuyên bào chữa cho đương sự trước Tòa án theo pháp luật hoặc làm cố vấn về pháp luật nói chung” [9;tr. Khái niệm trên đã chỉ ra được đặc điểm của Luật sư là người chuyên dựa vào pháp luật, căn cứ theo pháp luật để tham gia tố tụng tại Tòa án hoặc cố vấn cho khách hàng. Như vậy, trong khái niệm này đã chỉ được rõ hai hoạt động chính yếu nhất của Luật sư là hoạt động tranh tụng và hoạt động tư vấn.
Khái niệm này được xuất phát từ thực tiễn hành nghề Luật sư được gắn bó 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chặt chẽ với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án nhất là các vụ án hình sự. Đây cũng là khái niệm có phần chính xác nếu chúng ta đặt nó vào giai đoạn đầu tiên khi hình thành nghề Luật sư. Tuy nhiên, khái niệm về Luật sư nói trên vẫn còn chưa thực sự đầy đủ về mặt ngữ nghĩa, chưa đủ rộng để bao quát các hoạt động của Luật sư, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, “bào chữa” là hoạt động của Luật sư khi tham gia tố tụng hình sự. Khi tham gia tố tụng hình sự thì Luật sư có vị trí là người bào chữa cho bị can, bị cáo.
Còn để bảo vệ quyền và lợi ích cho “đương sự” trong tố tụng dân sự thì Luật sư không thực hiện vai trò “bào chữa” trước Tòa án, mà bằng quyền tranh luận và tranh tụng tại phiên tòa, Luật sư “bảo vệ quyền lợi cho đương sự”. Do vậy, khái niệm trên chưa thể hiện được hết vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể theo luật định. Thứ hai, khi khẳng định là “người làm cố vấn pháp luật nói chung” thì không chỉ ra được đặc thù của Luật sư để phân biệt với khái niệm Luật gia. Luật gia (Jurist) là người có kiến thức về pháp luật, chuyên gia luật.
Có thể hiểu đó là tất cả những người tốt nghiệp đại học luật (cử nhân luật trở lên); hoặc vận dụng ở Việt Nam có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng cử nhân luật, nhưng có kiến thức về pháp luật và đang hoạt động trên các lĩnh vực pháp luật, trong đó có cả các Luật sư. Hội viên Hội luật gia Việt Nam được hiểu theo nghĩa này. Luật sư (Lawyer), là luật gia được đào tạo thêm về kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn Luật sư, qua đó được công nhận là Luật sư để hành nghề chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp luật. Như vậy, Luật sư có thể là thành viên Hội luật gia, nhưng luật gia thì chưa hẳn đã phải là Luật sư.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quan điểm thứ hai: Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh thì “Luật sư là chuyên gia pháp luật; là cố vấn pháp lý mà ở họ có kỹ năng nghề nghiệp thực thụ” [8;tr. Với quan điểm thứ hai này, khái niệm Luật sư cho thấy tác giả đã bổ sung thêm yếu tố kỹ năng hành nghề - yếu tố rất quan trọng của một Luật sư. Do đó khái niệm Luật sư này đã bao gồm được hai đặc điểm đặc trưng cần có của người Luật sư nói chung. Đó là sự am hiểu pháp luật và kỹ năng hành nghề.
Vì hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều quan niệm Luật sư là một nghề, và đã là một nghề thì yêu cầu về tiêu chuẩn hành nghề và đào tạo nghề là rất cần thiết, do đó yêu cầu nhất thiết đối với các Luật sư là có kỹ năng hành nghề thành thục. Kỹ năng này được đào tạo trong thực tế. Một Luật sư thường phải có các kỹ năng cần thiết như kỹ năng phán đoán, kỹ năng tư duy khái quát, kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, kỹ năng thuyết trình hùng biện, nghệ thuật đặt câu hỏi, đàm phán thương lượng. Tại Việt Nam, sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật thì các sinh viên có thể đi làm và trở thành luật gia.
Tuy nhiên muốn trở thành Luật sư thì nhất thiết phải trải qua một lớp đào tạo hành nghề Luật sư tại Học viện Tư pháp. Ngoài học lý thuyết, các học viên còn phải trải qua một thời gian là 18 tháng tập sự hành nghề Luật sư. Tuy nhiên, hai đặc điểm đặc trưng của Luật sư trên đây chỉ là những yếu tố cần mà chưa đủ để xây dựng một khái niệm Luật sư hoàn chỉnh bởi vẫn chưa đưa ra được đặc điểm đặc biệt quan trọng của người Luật sư mà những nước có nghề Luật sư lâu đời đều quy định là “phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của Luật sư”. Ngoài các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thì yêu cầu đạo đức nghề nghiệp cũng rất quan trọng.
Nghề Luật sư cũng như một số nghề khác như nghề y, nghề dạy học. luôn luôn được xã hội tôn trọng. Như Platon, một nhà triết học Hy Lạp nổi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếng đã nói: “Những kiến thức chuyên môn của bác sỹ giúp họ cứu chữa cho người bệnh nhưng cũng có thể đầu độc người bệnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Nghề Luật sư cũng như bất kỳ một nghề chuyên môn nào khác cũng có những mặt trái. Do vậy, Luật sư cũng phải biết sử dụng kiến thức chuyên môn của mình sao cho vừa bảo vệ khách hàng lại vừa tôn trọng sự thật khách quan của vụ việc. Bên cạnh những tiêu chuẩn về chuyên môn nghề nghiệp thì đạo đức nghề nghiệp là yếu tố rất quan trọng với Luật sư, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu khi xây dựng một tiêu chuẩn Luật sư trong thời kỳ đổi mới. Có như thế Luật sư mới đảm bảo tốt được sứ mệnh mà mình gánh vác.
Ngoài hai quan điểm nêu trên còn có nhiều cách giải thích khác nhau về nghề Luật sư. Có quan niệm cho rằng Luật sư là người trợ lý pháp luật cho khách hàng, là người đồng hành pháp lý với Tòa án, là người trợ thủ pháp luật xã hội hoặc Luật sư là người phụ tá của công lý, tham gia vào sự điều hành của nền công lý. Các quan niệm này có lẽ được xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của người Luật sư khi hành nghề với những hình thức khác nhau: tư vấn, tranh tụng…dựa trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Những quan điểm này quá trừu tượng không giúp chúng ta nhận biết được đặc điểm của người Luật sư và không phân biệt được Luật sư với những người khác trong xã hội.
Việc quá đề cao vị trí, vai trò của Luật sư đến mức coi Luật sư là người “phụ tá”, người “điều hành công lý” … giống như người điều hành bộ máy tư pháp, theo chúng tôi cũng là không chính xác. Bởi Luật sư dù có thể gọi theo nhiều tên khác nhau, song suy cho cùng Luật sư không có vị trí ngang hàng với người tiến hành tố tụng. Cho đến nay, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, song vẫn có thể khẳng định vẫn chưa có được một khái niệm chính xác, đầy đủ về Luật sư. Có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một số quan điểm khác đáng chú ý như theo quan điểm của Thạc sỹ Trần Phương Thảo thì Luật sư được hiểu “là khái niệm pháp lý dùng để chỉ một chức danh tư pháp độc lập; theo đó những người có đủ điều kiện hành nghề Luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam được Bộ Tư Pháp Việt Nam công nhận quyền tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và bảo vệ pháp chế XHCN” [4;tr.
Trong khái niệm trên, tác giả Trần Phương Thảo đã nêu một khái niệm về Luật sư. Khái niệm này khá thống nhất với những điều kiện, tiêu chuẩn về Luật sư theo quy định của các văn bản pháp luật về Luật sư. Theo đó, luật sư phải là người đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây: - Tốt nghiệp đại học luật hoặc chuyên ngành luật. - Không vi phạm pháp luật hoặc trong tình trạng nghi vấn có hành vi vi phạm pháp luật.
- Đạt độ tuổi nhất định - Trải qua các khóa đào tạo Luật sư và có thời gian tập sự đầy đủ theo quy định. Đây là điều kiện bắt buộc đối với Luật sư ở bất cứ quốc gia nào. Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của nghề Luật sư là một nghề đòi hỏi sự đúc kết kinh nghiệm và thông qua thực tế rất lớn. Để có thể vận dụng những kiến thức sách vở, những quy định cứng nhắc vào hoàn cảnh khác nhau, biến chúng thành những phương án linh hoạt, sử dụng chúng như công cụ đắc lực đem lại lợi ích cho khách hàng, đòi hỏi người Luật sư phải có sự học hỏi từ những người đi trước và có thời gian thực hành khá nhuần nhuyễn.
Do vậy, đây được xem như giai đoạn mang tính chất quyết định để một người chứng minh mình có quyết tâm và khả năng mình có thể trở thành một Luật sư, một luật gia giỏi hay không. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.