mở đầu bằng câu nổi tiếng: “Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích”. Rousseau nhận thấy con người tự do và tự nhiên, những người “mông muội cao quý” là tốt đẹp, nhưng các thiết chế xã hội đã làm cho nó tha hóa. Hình thức tổ chức xã hội duy nhất có thể đưa họ về trạng thái tự nhiên tự do là nền dân chủ trực tiếp. CHỉ có chủ quyền đại chúng này mới có tính chính đáng; chỉ có ý chí chung được nhân dân thực hiện mới làm pháp luật có hiệu lực.
Tư tưởng cơ bản của ông cho rằng, nhưng người bình thường cũng có quyền tự chủ và có quyền lật đỏ những ông vua tự cho mình là thiên mệnh. Rousseau phát triển ý tưởng về nhà nước lý tưởng thông qua các hội nghị toàn thể nhân dân. Đó là nguồn gốc của sự giới hạn quyền lực nhà nước mà nền tảng của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. [17] Học thuyết của J.Locke về chính phủ bị hạn chế có ảnh hưởng lớn đến Hiến pháp của Mỹ.
Học thuyết này nhìn từ góc độ bảo vệ các quyền về tài sản, cùng các quyền khác của con người trong trạng thái tự nhiên, đã được các nhà lập hiến của nước Mỹ tiếp nhận rất đầy đủ qua các bài luận của họ Hiến pháp. Các nhà soạn thảo Hiến pháp còn cho rằng, sự ra đời của các thiết chế quyền giám sát bảo hiến và sự phát triển học thuyết phân quyền của S.Montesquieu được coi là một nền tảng cơ bản chống lại sự chuyên chế của đa số. Vấn đề hạn chế quyền lực nhà nước được xuất hiện dựa trên nền tảng của việc đảm bảo các quyền và tự do của các công dân. Trong tác phẩm của mình, S.Montesquieu cho rằng tự do chính trị chỉ có thể tìm thấy ở đâu có một “chính phủ hợp lý”, tức là một chính phủ trong đó “không có sự lạm dụng quyền lực”, tức là một chính phủ bị hạn chế.
Vì vậy, nếu quyền lực nhà nước không bị hạn chế, không bị kiểm soát thì hậu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả rõ ràng nhất là sự vi phạm các quyền của con người. Ông còn cho rằng muốn hạn chế thì buộc phải phân quyền. Do đó tư tưởng của S.Montesquieu dựa trên sự phân quyền và ông coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết của những bảo đảm cho tự do chính trị cho mọi người dân. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa lập hiến hiện đại là việc vạch ra giới hạn giữa quyền lực nhà nước và quyền và tự do của công dân theo nguyên tắc nhà nước thì không được can thiệp vào các lĩnh vực thuộc quyền tự do của công dân.
Lý thuyết về các quyền tự nhiên của con người được hình thành và phát triển cùng với tư tưởng về một chính quyền bị kiểm soát trong một trật tự của hiến pháp là điều kiện tiên quyết cho việc đảm bảo quyền cơ bản của công dân. Cơ sở cho việc cần phải giới hạn quyền lực nhà nước không chỉ nằm ở chỗ chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước mà còn ở chỗ chống lại sự tùy tiện của nhà nước thông qua các hành vi của các quan chức thay mặt nhà nước đảm trách các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trong một xã hội dân chủ, các thể chế chính trị gồm các quy tắc bầu cử đặt ra các thủ tục bầu và thay thế các chính phủ. Chúng cũng bao gồm quy định sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa trung ương và địa phương cũng như những giới hạn quyền lực đối với tất cả các cơ quan này.
Khi soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập cho nước Mỹ, T.Jefferson cho tằng quyền được chống đối bất cứ loại chính quyền nào không đáp ứng được những nguyện vọng của kẻ bị trị. Ông muốn có một xã hội của những người tự do, vì đối với ông tự do là trên hết. Ông công nhận rằng, người tự do cũng phải chấp nhận một vài hạn chế trong lối sống của họ và luật lệ cũng phải được thi hành đối với những kẻ vi phạm. Lý giải sự kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề có tính khách quan, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com James Madison cho rằng: “Trong việc tạo dựng một chính phủ được những con người quản lý để cai trị những con người khác, khó khăn lớn nằm trong điều này: Trước hết anh phải làm cho chính phủ có khả năng kiểm soát những người bị cai trị và điều tiếp theo sau là buộc chính phủ phải tự kiểm soát mình.” Việc kiềm chế tiềm năng sử dụng và lạm dụng quyền lực nhà nước là một thách thức đối với bất cứ nhà nước nào.
Điều khó khăn hơn nữa là làm việc này mà không làm cho các cơ quan nhà nước mất đi tính mềm dẻo cần phải có để tiến hành các công việc của nhà nước. Việc sử dụng không đúng quyền lực nhà nước tạo ra những vấn đề nghiêm trọng của sự tín nhiệm nhà nước của công chúng sẽ có tác động rất lâu dài trước công luận [17]. Trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân hiện nay ở nước ta, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đang là một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Là vấn đề cơ bản, vì nó là một yếu tố cấu thành khách quan của hoạt động thực thi quyền lực nhà nước.
Khi chúng ta thừa nhận quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, thì hoạt động thực thi quyền lực nhà nước sẽ gồm ba yếu tố cấu thành: trao quyền, sử dụng quyền và kiểm soát quyền. Để bảo đảm quyền lực thực sự của nhân dân, không để xảy ra việc dân “ trao quyền rồi mất quyền”, thì tất yếu phải kiểm soát. Mặt khác, việc kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay ở nước ta tuy có nhiều cố gắng và đạt được một số tiến bộ, nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế, cả về lý luận và thực tiễn. Pháp luật ngày càng trở nên là một công cụ hữu hiệu cho việc điều chỉnh các hoạt động của xã hội.
Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo các quy định – chuẩn mực của pháp luật. Tất cả các quy phạm điều chỉnh mọi hoạt động của xã hội hợp thành hệ thống thống nhất các văn bản pháp luật của quốc gia. Đứng đầu các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật là Hiến pháp và các văn bản của Nghị viện/Quốc hội ban hành. So với các đạo 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật khác hợp thành hệ thống pháp luật thống nhất của mỗi quốc gia thì Hiến pháp có một đời sống ngắn hơn tất cả.
Nhưng khác các đạo luật khác, Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao hơn. Tất cả các đạo luật dù được ban hành trước hay sau đều không được mâu thuẫn với Hiến pháp. Về mặt hình thức Hiến pháp, Hiến pháp được Nhà nước quy định là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia. Chính vì tính cơ bản này buộc các đạo luật khác phải tuân thủ theo Hiến pháp.
Sở dĩ Hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao nằm ở nội dung của Hiến pháp, hay nói cách khác chính là đối tượng điều chỉnh đặc biệt của Hiến pháp. Đó là mối quan hệ xã hội trong việc chính con người phải quản lý con người. Chính đối tượng này đã làm cho Hiến pháp phải là văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao. Việc quy định sự hạn chế quyền lực nhà nước có thể gọi đó là tính nhân bản của Hiến pháp.
Hay có thể nói ngược lại Hiến pháp muốn thể hiện tính nhân bản của mình thì phải có các quy định nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước. Tính nhân bản của Hiến pháp thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất Hiến pháp quy định một cách trực tiếp các quyền con người nhằm mục đích chống lại sự vi phạm của tất cả các phía, trong đó có cả từ phía nhà nước. Thứ hai, Hiến pháp quy định những cơ chế kìm hãm và ngăn ngừa những bản tính xấu của người cầm quyền, nhằm mục đích giữ cho họ luôn luôn ở trạng thái cân bằng với những đức tính tốt như khi mới được giao quyền. Cả hai mặt trên đều quan trọng, nhưng tính nhân bản của Hiến pháp nặng về mặt thứ hai, vì dẫu sao đi chăng nữa Hiến pháp vẫn là bản văn quy định chế độ nhà nước – cách thức làm việc của chính quyền.
Trách nhiệm của chính quyền – tức là nghĩa vụ của công chức phải báo cáo về các hoạt động của họ cho các công dân và quyền của các công dân được hành động chống lại các quan chức có các hành vi mà các công dân coi là không chuẩn mực - là một yếu tố thiết yếu của dân chủ. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với mục tiêu bảo vệ con người, Hiến pháp có hai vấn đề cần phải quy định: Thứ nhất, quy định quyền con người, bao gồm cả những quy định bảo đảm cho nhân quyền đó không bị xâm phạm; thứ hai quy định về chế độ làm việc của nhà nước. Chính việc quy định về chế độ nhà nước ở thể thức kìm chế và đối trọng nhau một cách chặt chẽ trong một bản văn có hiệu lực tối cao so với các văn bản luật khác là một trong những bảo đảm quan trọng nhất cho việc nhân quyền không bị vi phạm trước hết là từ phía nhà nước. Bên cạnh đó, sự hạn chế quyền hạn của các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước, chỉ được hoạt động trong phạm vi quy định các quyền được phép làm của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng là việc đảm bảo các quyền của con người không được vi phạm.
Vì các cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà Hiến pháp quy định mà không được vượt ra ngoài những quy định đó mà dẫn đến việc vi phạm nhân quyền. Việc Hiến pháp phải quy định, trù liệu để hạn chế những bản tính xấu của con người là biểu hiện của tính nhân bản quan trọng nhất của Hiến pháp. Những quy định này cũng góp phần tạo nên tính chính trị của Hiến pháp. Một trong những đặc tính khác với các đạo luật thường khác của mỗi quốc gia.
Với đối tượng điều chỉnh đặc biệt là hành vi của con người phải quản lý con người, việc tạo ra những quy định nhằm hạn chế bớt những mặt tiêu cực của người cầm quyền là rất quan trọng.