Vấn Đề Nhận Thức Trong Tống Nho Và Ảnh Hưởng Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm Và Lê Quý Đôn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh vấn đề nhận thức trong tống nho và ảnh hưởng của nó đối với nguyễn bình khiêm và lê quý đôn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO

1.1. Cơ sở hình thành nhận thức trong Nho giáo Thời Tống

1.1.1. Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội thời Tống

2. CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ LÊ QUÝ ĐÔN

2.1. Nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới ảnh hưởng của Tống Nho

2.1.1. Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về bản thể, nhân sinh

2.1.2. Quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về nhận thức

2.2. Nhận thức của Lê Quý Đôn dưới ảnh hưởng của Tống Nho

2.2.1. Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và quan điểm của Lê Quý Đôn về bản thể và nhân sinh

2.2.2. Quan điểm của Lê Quý Đôn về nhận thức

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nhận Thức Trong Tống Nho và Ảnh Hưởng Đến Việt Nam

Nhận thức trong Tống Nho là một chủ đề quan trọng trong triết học phương Đông, đặc biệt là trong bối cảnh lịch sử và văn hóa Việt Nam. Tống Nho, với những tư tưởng sâu sắc của các triết gia như Chu Hy, đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển tư tưởng triết học ở Việt Nam. Sự ảnh hưởng của Tống Nho không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn lan tỏa vào thực tiễn xã hội, văn hóa và giáo dục. Hai nhân vật tiêu biểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn, đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng này, góp phần định hình tư duy và nhận thức của người Việt trong thời kỳ phong kiến.

1.1. Nhận Thức Trong Tống Nho Đặc Điểm và Ý Nghĩa

Nhận thức trong Tống Nho được hình thành từ nhiều yếu tố, bao gồm bối cảnh lịch sử, xã hội và triết học. Tống Nho không chỉ đơn thuần là một hệ thống tư tưởng mà còn là một phương pháp tiếp cận thực tiễn, giúp con người hiểu rõ hơn về bản thân và thế giới xung quanh. Đặc điểm nổi bật của nhận thức trong Tống Nho là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, nhấn mạnh vai trò của con người trong việc tu dưỡng bản thân và cải thiện xã hội.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Tống Nho Trong Lịch Sử Việt Nam

Tống Nho đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV. Các nhà Nho Việt Nam đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng của Tống Nho, tạo ra một hệ thống tri thức phong phú. Sự phát triển của Nho giáo trong bối cảnh Việt Nam không chỉ giúp định hình tư duy của các nhà tư tưởng mà còn ảnh hưởng đến các chính sách xã hội và giáo dục của triều đình.

II. Vấn Đề Nhận Thức Trong Tống Nho Thách Thức và Cơ Hội

Mặc dù Tống Nho mang lại nhiều giá trị, nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức trong việc áp dụng vào thực tiễn. Những vấn đề như sự bảo thủ trong tư duy, sự phân hóa xã hội và sự kháng cự từ các trường phái triết học khác đã tạo ra những rào cản nhất định. Tuy nhiên, những thách thức này cũng mở ra cơ hội cho việc phát triển tư tưởng mới, giúp con người tìm ra những giải pháp sáng tạo hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.

2.1. Thách Thức Trong Việc Áp Dụng Tống Nho Vào Thực Tiễn

Một trong những thách thức lớn nhất là sự bảo thủ trong tư duy của một số nhà Nho, dẫn đến việc không chấp nhận những tư tưởng mới. Điều này đã làm hạn chế khả năng phát triển của Tống Nho trong bối cảnh xã hội đang thay đổi nhanh chóng. Sự phân hóa xã hội cũng tạo ra những rào cản trong việc áp dụng các tư tưởng của Tống Nho vào thực tiễn.

2.2. Cơ Hội Phát Triển Tư Tưởng Mới Từ Tống Nho

Dù gặp nhiều thách thức, Tống Nho vẫn tạo ra cơ hội cho việc phát triển tư tưởng mới. Các nhà tư tưởng như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn đã biết cách kết hợp giữa Tống Nho và các yếu tố văn hóa địa phương, từ đó tạo ra những tư tưởng độc đáo và phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

III. Phương Pháp Nhận Thức Trong Tống Nho Cách Tiếp Cận và Ứng Dụng

Phương pháp nhận thức trong Tống Nho chủ yếu dựa trên việc tu dưỡng bản thân và học hỏi từ thiên nhiên. Các nhà Nho tin rằng việc hiểu biết về bản thân và thế giới xung quanh là chìa khóa để đạt được sự hài hòa trong cuộc sống. Phương pháp này không chỉ áp dụng trong triết học mà còn trong giáo dục và quản lý xã hội.

3.1. Cách Tiếp Cận Nhận Thức Trong Tống Nho

Cách tiếp cận nhận thức trong Tống Nho thường bắt đầu từ việc tự vấn bản thân và tìm kiếm sự thật. Các nhà Nho khuyến khích việc học hỏi từ thiên nhiên và xã hội, từ đó rút ra những bài học quý giá cho cuộc sống. Phương pháp này giúp con người phát triển tư duy phản biện và khả năng tự nhận thức.

3.2. Ứng Dụng Phương Pháp Nhận Thức Vào Giáo Dục

Phương pháp nhận thức trong Tống Nho đã được áp dụng rộng rãi trong giáo dục. Các nhà Nho nhấn mạnh việc giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình tu dưỡng nhân cách. Điều này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho hệ thống giáo dục phong kiến Việt Nam, giúp hình thành những thế hệ trí thức có trách nhiệm với xã hội.

IV. Ảnh Hưởng Của Tống Nho Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm Tư Tưởng và Tác Phẩm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Tống Nho. Tư tưởng của ông không chỉ phản ánh những giá trị của Tống Nho mà còn thể hiện sự sáng tạo và thích ứng với bối cảnh Việt Nam. Các tác phẩm của ông, như thơ và triết lý, đã góp phần định hình tư duy của người Việt trong thời kỳ phong kiến.

4.1. Tư Tưởng Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Dưới Ảnh Hưởng Của Tống Nho

Tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự kết hợp giữa triết lý Tống Nho và những giá trị văn hóa Việt Nam. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng bản thân và trách nhiệm đối với xã hội. Những quan điểm này không chỉ giúp ông trở thành một nhà tư tưởng lớn mà còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau.

4.2. Tác Phẩm Nổi Bật Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt là thơ và triết lý, đã thể hiện rõ ràng những tư tưởng của Tống Nho. Ông sử dụng ngôn ngữ tinh tế để truyền tải những giá trị nhân văn và triết lý sâu sắc, từ đó tạo ra một di sản văn hóa phong phú cho dân tộc.

V. Ảnh Hưởng Của Tống Nho Đến Lê Quý Đôn Tư Tưởng và Đóng Góp

Lê Quý Đôn là một nhà tư tưởng lớn khác của Việt Nam, cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Tống Nho. Tư tưởng của ông không chỉ thể hiện sự tiếp thu mà còn là sự phát triển và sáng tạo trong bối cảnh Việt Nam. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực triết học, văn học và khoa học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

5.1. Tư Tưởng Của Lê Quý Đôn Trong Bối Cảnh Tống Nho

Tư tưởng của Lê Quý Đôn thể hiện sự kết hợp giữa Tống Nho và các yếu tố văn hóa Việt Nam. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức và giáo dục trong việc xây dựng xã hội. Những quan điểm này đã giúp ông trở thành một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Việt Nam.

5.2. Đóng Góp Của Lê Quý Đôn Trong Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam

Lê Quý Đôn đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực triết học, văn học và khoa học. Các tác phẩm của ông không chỉ phản ánh tư tưởng Tống Nho mà còn thể hiện sự sáng tạo và thích ứng với bối cảnh Việt Nam. Những đóng góp này đã tạo ra một di sản văn hóa phong phú cho dân tộc.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Nhận Thức Trong Tống Nho Tại Việt Nam

Nhận thức trong Tống Nho đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Sự ảnh hưởng của Tống Nho không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn lan tỏa vào thực tiễn xã hội, giáo dục và văn hóa. Tương lai của nhận thức trong Tống Nho tại Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển và thích ứng với bối cảnh hiện đại, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và tiến bộ.

6.1. Tương Lai Của Nhận Thức Trong Tống Nho

Tương lai của nhận thức trong Tống Nho tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và phát triển những giá trị của Tống Nho trong bối cảnh hiện đại. Việc kết hợp giữa tri thức cổ truyền và hiện đại sẽ tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển tư tưởng và văn hóa.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Để Phát Triển Nhận Thức Trong Tống Nho

Để phát triển nhận thức trong Tống Nho, cần có những giải pháp cụ thể như tăng cường giáo dục về Tống Nho trong trường học, khuyến khích nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực triết học, và tạo ra môi trường thuận lợi cho việc áp dụng các tư tưởng của Tống Nho vào thực tiễn xã hội.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề nhận thức trong tống nho và ảnh hưởng của nó đối với nguyễn bình khiêm và lê quý đôn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO 1. Cơ sở hình thành nhận thức trong Nho giáo Thời Tống 1. Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội thời Tống Năm 960, trước tình hình loạn lạc của thời kì “ngũ đại thập quốc”, một đại thần của Hậu Chu là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn phát động cuộc binh biến Trần Kiều, cướp ngôi nhà Hậu Chu sáng lập lên Nhà Tống, tính đến năm 1279 khi nhà Tống bị nhà Nguyên tiêu diệt, cả thảy đã tồn tại 319 năm. Nhà Tống được chia làm hai thời kỳ Bắc Tống (960 - 1127) và Nam Tống (1127 - 1279).

Việc thành lập nhà Tống đánh dấu sự tái thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên kể từ khi nhà Đường sụp đổ, chấm dứt cục diện thời kì Ngũ đại thập quốc đầy chia cắt. Tống Thái Tổ cai trị trong mười lăm năm. Ông và người con kế tiếp (là vua Thái Tông) thống nhất những phần lãnh thổ Trung Quốc không bị người nước ngoài cai trị - chinh phục từng quận huyện, và ngăn cản quân lính không cướp bóc dân địa phương, ân xá cho các thủ lĩnh quân đội địa phương đã chống lại ông. Các thủ lĩnh địa phương được cho về nghỉ với khoản lương hưu lớn, và họ bị thay thế bởi các quan hành chính dân sự.

Kiểu chính trị giết hại và chiến tranh dường như đã kết thúc. Tống Thái Tổ xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền có hiệu quả với các học thức xuất phát từ bình dân. Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức do trung ương chỉ định. Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó.

Nhưng gần một thế kỉ từ khi lập nước, Bắc Tống đã phải chinh chiến liên miên để tiêu diệt các thế lực cát cứ cũng như chống lại sự xâm lược của quân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liêu và Tây Hạ làm hao người tốn của. Tính tự phụ của tầng lớp ưu tú Trung Quốc làm họ tin rằng họ không cần phải điều chỉnh lại thực tế quân sự. Họ tin rằng các nước láng giềng sẽ nể sợ sự vĩ đại của Trung Quốc cùng sự ưu ái của Trời với họ. Thực thi Khổng giáo, họ tin rằng nếu quốc gia Trung Quốc chỉ cần đơn giản thực thi nhiều đạo đức hơn thì các vị vua láng giềng sẽ phải tỏ ra kính trọng Trung Quốc, rằng họ sẽ công nhận vai trò đích thực của Trung Quốc như một siêu cường và sẽ phải nộp cống đầy đủ cho Trung Quốc.

Các quan chức bản thân là nhà Nho là những người chịu trách nhiệm về sự yếu kém của quân đội. Tầng lớp Nho giáo ưu tú luôn muốn có hoà bình. Họ coi binh lính là nhóm người thấp nhất trong mọi nhóm. Rèn luyện thể chất và các kỹ năng chiến đấu không được quý trọng.

Trung Quốc có quân đội nhưng không có tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp, và quân đội của họ cũng bị sao lãng, ít quan tâm tới các chiến thuật tác chiến. Các buổi tập trận và kỷ luật quân đội bị coi nhẹ. Trung Quốc tìm cách thoả mãn nhu cầu quân sự của mình bằng cách mướn lính đánh thuê nhưng bản thân điều này chưa đủ giải quyết tình hình. Trung Quốc đã không thể đối mặt với sự thật rằng sức mạnh quân sự của họ đã luôn bị thử thách với những cuộc chạm trán liên tục với người Khiết Đan (Khitan), một dân tộc sống ở hầu hết vùng Mãn Châu và đang chiếm đóng vùng cực bắc của họ.

Sau khi nhiều lần bị người Khiết Đan đánh bại, Vua Tống Chân Tông, năm 1004 đã ký một thoả ước với người Khiết Đan, nhường lại vĩnh viễn cho người Khiết Đan phần đất Trung Quốc mà họ đang chiếm, gồm cả Bắc Kinh và ông đồng ý nộp cống hàng năm cho họ. Ở Tây Bắc, Người Trung Quốc chiến đấu chống lại người Tây Hạ (Tangut) - một bộ tộc Tây Tạng - và Trung Quốc cũng phải chịu với người Tây Hạ điều họ chịu với người Khiết Đan, cho phép Tây Hạ chiếm đất đai Trung Quốc. Năm 1044, Trung Quốc có hoà bình với người Tây Hạ bằng cách đồng ý nộp cống giống như nộp cống cho người Khiết Đan. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân số tăng vượt quá mức tăng kinh tế.

Các chi phí chiến tranh cộng với chi phí ở biên giới phía bắc làm chảy máu nền kinh tế Trung Quốc, cũng như chi phí tăng kỷ lục cho bộ máy quan liêu. Hơn nữa, sự quan liêu còn bị chia xẻ bởi các phe cánh đưa ra các biện pháp khác nhau nhằm về vấn đề cải cách thuế và phân phối ruộng đất. Các vua nhà Tống bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn về thuế. Nhân dân phải đóng góp sưu thuế hết sức nặng nề, chính sách thuế má bất công, dân nghèo thì phải đóng góp nhiều, kẻ giàu thì được miễn nhiều thứ thuế mà lại giỏi trốn thuế, nên kẻ nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu, nhất là thuế mỗi ngày một tăng, nên dân chúng đói quá phải nổi loạn, mỗi khi lụt hoặc mất mùa.

Như 1075, ở Hồ Châu lụt, mùa màng hư hết, nửa triệu người chết đói, mặc dù triều đình đã phát chẩn 1.000 hộc lúa cho dân nghèo. Nạn đói vì thiên tai là nạn lớn nhất của dân Trung Hoa. Có người đã làm thống kê thấy rằng trong 2.300 năm từ thế kỷ thứ VIII trước T.L tới cuối đời trước sau họ bị 1057 cơn nắng hạn và 1030 vụ lụt, ấy là chưa kể nạn chiến tranh. Vì thế nông dân nhiều nơi đã đứng lên khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Vương Tiểu Ba lãnh đạo, nổ ra ở Tứ Xuyên năm 993.

Để cứu vãn tình hình đất nước Vương An Thạch (1021- 1086), một nhà tư tưởng có tài về chính trị được Tống Thần Tông phong làm tể tướng đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện về các mặt xã hội phong kiến như tài chính, kinh tế, quân đội,… Các cuộc cải cách đó không thành công, cũng như các cuộc cải cách trước dưới thời nhà Hán vì một số chủ trương không thực tế, và vì một lý do cơ bản: sự chống đối từ đa phần tiểu quý tộc Khổng giáo, những người coi quyền lợi kinh tế riêng quan trọng hơn quyền lợi chung cho nên nó bị những kẻ có thế lực trong xã hội phản đối quyết liệt, nhất là bọn cựu trào, bảo thủ thuộc phái cựu đẳng như Tư mã Quang, Hà Kỳ,… Đến đời Tống Huy Tông triều đình nhà Tống trở nên thối nát, bắt đầu thời kì suy yếu. Vua chúa chỉ lo xây dựng cung thất, ao hồ, ăn chơi xa xỉ. Năm 1101, vị vua lúc bấy giờ là Huy Tông, cũng là một nhà thơ, một nhà thư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp và sùng Đạo giáo. Huy Tông chi rất nhiều tiền cho những cuộc rước xách Đạo lão rất tốn kém và cho việc bảo dưỡng cung điện cùng các vườn hoa.

Ông tăng thuế. Bọn quan lại địa chủ thừa cơ bóc lột nhân dân lao động tàn bạo hơn, làm cho dân rơi vào cảnh bần cùng, tha phương cầu thực tạo nên nổi loạn, và Huy Tông dẹp tan các cuộc nổi loạn như một phần hoạt động của đế chế mà ông, thiên tử, thực hiện. Từ thế kỉ XII, Nhà Tống lại đứng trước một hiểm họa lớn, đó là các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính Trung Quốc của nhà Kim. Trong khi quần chúng nhân dân kiên quyết đứng lên chống xâm lược thì vua Tống và một số quan lại triều đình lại bạc nhược, chỉ chủ trương cầu hòa.

Tháng 11 năm 1125, Quân Kim chiếm Biện Kinh, Tống Khâm Tông phải dâng biểu xin hàng, xưng “thần” với vua Kim và hiến cả một vùng đất rộng lớn phía Nam Hoàng Hà cùng với vàng bạc, châu báu, lụa là để tạ tội. Tháng 5 năm 1127, Quân kim bắt Thái thượng hoàng Huy Tông, Tống Khâm Tông cùng với hoàng hậu, vương phi, thái tử và tôn thất nhà vua đem về Phương Bắc, Nhà Bắc Tống diệt vong. Người con trai thứ chín của Huy Tông sống sót và tiếp tục vương triều Tống ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử và kéo dài về phía Tây tới tỉnh Tứ Xuyên. Một lần nữa, Trung Quốc chỉ còn giữ được vùng phía Nam, triều đình ở đó được gọi là nhà Nam Tống.

Sang thời Nam Tống (1127 - 1279), vua quan nhà Tống lại càng ươn hèn bạc nhược hơn, từ đầu chí cuối đều chỉ thực hiện chính sách đầu hàng. Trước những cuộc tấn công xâm lược của người Kim, trong lúc những tướng lĩnh, quan lại và nghĩa quân yêu nước vẫn kiên cường chống lại quân Kim và đã đánh bại chúng ở nhiều nơi, truy kích địch đến tận Hoàng Hà, thu hồi được nhiều vùng đất đã mất thì Tống Cao Tông lại sợ hãi bỏ chạy xuống Hàng Châu (Triết Giang) và cuối cùng phải quy hàng quân Kim một cách nhục nhã: cầu xin vua Kim tha thứ, xin bỏ danh hiệu hoàng đế làm một kẻ bề tôi tôn thờ nước Đại Kim,… Năm 1234, nhà Kim nhanh chóng bị người Mông Cổ chinh phục, sau đó Mông Cổ kiểm soát 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra. Khi Hốt tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Kha, vua cai trị Mông Cổ.

Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ, để nhà Tống yên ổn trong một thời gian ngắn. Năm 1271 Nhà Nguyên của người Mông Cổ được thành lập. Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế lại phía sau. Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế.

Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị mới 9 tuổi, và được phong làm hoàng đế Đoan Tông. Vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan hay Mai Oa ở Đại Tự Sơn và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông. Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính mới 7 tuổi, lên kế vị. Ngày 19 tháng 3 năm 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng ở đồng bằng sông Châu Giang, một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn, kết thúc triều đại nhà Tống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ