Chương 1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO 1. Cơ sở hình thành nhận thức trong Nho giáo Thời Tống 1. Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội thời Tống Năm 960, trước tình hình loạn lạc của thời kì “ngũ đại thập quốc”, một đại thần của Hậu Chu là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn phát động cuộc binh biến Trần Kiều, cướp ngôi nhà Hậu Chu sáng lập lên Nhà Tống, tính đến năm 1279 khi nhà Tống bị nhà Nguyên tiêu diệt, cả thảy đã tồn tại 319 năm. Nhà Tống được chia làm hai thời kỳ Bắc Tống (960 - 1127) và Nam Tống (1127 - 1279).
Việc thành lập nhà Tống đánh dấu sự tái thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên kể từ khi nhà Đường sụp đổ, chấm dứt cục diện thời kì Ngũ đại thập quốc đầy chia cắt. Tống Thái Tổ cai trị trong mười lăm năm. Ông và người con kế tiếp (là vua Thái Tông) thống nhất những phần lãnh thổ Trung Quốc không bị người nước ngoài cai trị - chinh phục từng quận huyện, và ngăn cản quân lính không cướp bóc dân địa phương, ân xá cho các thủ lĩnh quân đội địa phương đã chống lại ông. Các thủ lĩnh địa phương được cho về nghỉ với khoản lương hưu lớn, và họ bị thay thế bởi các quan hành chính dân sự.
Kiểu chính trị giết hại và chiến tranh dường như đã kết thúc. Tống Thái Tổ xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền có hiệu quả với các học thức xuất phát từ bình dân. Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức do trung ương chỉ định. Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó.
Nhưng gần một thế kỉ từ khi lập nước, Bắc Tống đã phải chinh chiến liên miên để tiêu diệt các thế lực cát cứ cũng như chống lại sự xâm lược của quân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liêu và Tây Hạ làm hao người tốn của. Tính tự phụ của tầng lớp ưu tú Trung Quốc làm họ tin rằng họ không cần phải điều chỉnh lại thực tế quân sự. Họ tin rằng các nước láng giềng sẽ nể sợ sự vĩ đại của Trung Quốc cùng sự ưu ái của Trời với họ. Thực thi Khổng giáo, họ tin rằng nếu quốc gia Trung Quốc chỉ cần đơn giản thực thi nhiều đạo đức hơn thì các vị vua láng giềng sẽ phải tỏ ra kính trọng Trung Quốc, rằng họ sẽ công nhận vai trò đích thực của Trung Quốc như một siêu cường và sẽ phải nộp cống đầy đủ cho Trung Quốc.
Các quan chức bản thân là nhà Nho là những người chịu trách nhiệm về sự yếu kém của quân đội. Tầng lớp Nho giáo ưu tú luôn muốn có hoà bình. Họ coi binh lính là nhóm người thấp nhất trong mọi nhóm. Rèn luyện thể chất và các kỹ năng chiến đấu không được quý trọng.
Trung Quốc có quân đội nhưng không có tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp, và quân đội của họ cũng bị sao lãng, ít quan tâm tới các chiến thuật tác chiến. Các buổi tập trận và kỷ luật quân đội bị coi nhẹ. Trung Quốc tìm cách thoả mãn nhu cầu quân sự của mình bằng cách mướn lính đánh thuê nhưng bản thân điều này chưa đủ giải quyết tình hình. Trung Quốc đã không thể đối mặt với sự thật rằng sức mạnh quân sự của họ đã luôn bị thử thách với những cuộc chạm trán liên tục với người Khiết Đan (Khitan), một dân tộc sống ở hầu hết vùng Mãn Châu và đang chiếm đóng vùng cực bắc của họ.
Sau khi nhiều lần bị người Khiết Đan đánh bại, Vua Tống Chân Tông, năm 1004 đã ký một thoả ước với người Khiết Đan, nhường lại vĩnh viễn cho người Khiết Đan phần đất Trung Quốc mà họ đang chiếm, gồm cả Bắc Kinh và ông đồng ý nộp cống hàng năm cho họ. Ở Tây Bắc, Người Trung Quốc chiến đấu chống lại người Tây Hạ (Tangut) - một bộ tộc Tây Tạng - và Trung Quốc cũng phải chịu với người Tây Hạ điều họ chịu với người Khiết Đan, cho phép Tây Hạ chiếm đất đai Trung Quốc. Năm 1044, Trung Quốc có hoà bình với người Tây Hạ bằng cách đồng ý nộp cống giống như nộp cống cho người Khiết Đan. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân số tăng vượt quá mức tăng kinh tế.
Các chi phí chiến tranh cộng với chi phí ở biên giới phía bắc làm chảy máu nền kinh tế Trung Quốc, cũng như chi phí tăng kỷ lục cho bộ máy quan liêu. Hơn nữa, sự quan liêu còn bị chia xẻ bởi các phe cánh đưa ra các biện pháp khác nhau nhằm về vấn đề cải cách thuế và phân phối ruộng đất. Các vua nhà Tống bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn về thuế. Nhân dân phải đóng góp sưu thuế hết sức nặng nề, chính sách thuế má bất công, dân nghèo thì phải đóng góp nhiều, kẻ giàu thì được miễn nhiều thứ thuế mà lại giỏi trốn thuế, nên kẻ nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu, nhất là thuế mỗi ngày một tăng, nên dân chúng đói quá phải nổi loạn, mỗi khi lụt hoặc mất mùa.
Như 1075, ở Hồ Châu lụt, mùa màng hư hết, nửa triệu người chết đói, mặc dù triều đình đã phát chẩn 1.000 hộc lúa cho dân nghèo. Nạn đói vì thiên tai là nạn lớn nhất của dân Trung Hoa. Có người đã làm thống kê thấy rằng trong 2.300 năm từ thế kỷ thứ VIII trước T.L tới cuối đời trước sau họ bị 1057 cơn nắng hạn và 1030 vụ lụt, ấy là chưa kể nạn chiến tranh. Vì thế nông dân nhiều nơi đã đứng lên khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Vương Tiểu Ba lãnh đạo, nổ ra ở Tứ Xuyên năm 993.
Để cứu vãn tình hình đất nước Vương An Thạch (1021- 1086), một nhà tư tưởng có tài về chính trị được Tống Thần Tông phong làm tể tướng đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện về các mặt xã hội phong kiến như tài chính, kinh tế, quân đội,… Các cuộc cải cách đó không thành công, cũng như các cuộc cải cách trước dưới thời nhà Hán vì một số chủ trương không thực tế, và vì một lý do cơ bản: sự chống đối từ đa phần tiểu quý tộc Khổng giáo, những người coi quyền lợi kinh tế riêng quan trọng hơn quyền lợi chung cho nên nó bị những kẻ có thế lực trong xã hội phản đối quyết liệt, nhất là bọn cựu trào, bảo thủ thuộc phái cựu đẳng như Tư mã Quang, Hà Kỳ,… Đến đời Tống Huy Tông triều đình nhà Tống trở nên thối nát, bắt đầu thời kì suy yếu. Vua chúa chỉ lo xây dựng cung thất, ao hồ, ăn chơi xa xỉ. Năm 1101, vị vua lúc bấy giờ là Huy Tông, cũng là một nhà thơ, một nhà thư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp và sùng Đạo giáo. Huy Tông chi rất nhiều tiền cho những cuộc rước xách Đạo lão rất tốn kém và cho việc bảo dưỡng cung điện cùng các vườn hoa.
Ông tăng thuế. Bọn quan lại địa chủ thừa cơ bóc lột nhân dân lao động tàn bạo hơn, làm cho dân rơi vào cảnh bần cùng, tha phương cầu thực tạo nên nổi loạn, và Huy Tông dẹp tan các cuộc nổi loạn như một phần hoạt động của đế chế mà ông, thiên tử, thực hiện. Từ thế kỉ XII, Nhà Tống lại đứng trước một hiểm họa lớn, đó là các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính Trung Quốc của nhà Kim. Trong khi quần chúng nhân dân kiên quyết đứng lên chống xâm lược thì vua Tống và một số quan lại triều đình lại bạc nhược, chỉ chủ trương cầu hòa.
Tháng 11 năm 1125, Quân Kim chiếm Biện Kinh, Tống Khâm Tông phải dâng biểu xin hàng, xưng “thần” với vua Kim và hiến cả một vùng đất rộng lớn phía Nam Hoàng Hà cùng với vàng bạc, châu báu, lụa là để tạ tội. Tháng 5 năm 1127, Quân kim bắt Thái thượng hoàng Huy Tông, Tống Khâm Tông cùng với hoàng hậu, vương phi, thái tử và tôn thất nhà vua đem về Phương Bắc, Nhà Bắc Tống diệt vong. Người con trai thứ chín của Huy Tông sống sót và tiếp tục vương triều Tống ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử và kéo dài về phía Tây tới tỉnh Tứ Xuyên. Một lần nữa, Trung Quốc chỉ còn giữ được vùng phía Nam, triều đình ở đó được gọi là nhà Nam Tống.
Sang thời Nam Tống (1127 - 1279), vua quan nhà Tống lại càng ươn hèn bạc nhược hơn, từ đầu chí cuối đều chỉ thực hiện chính sách đầu hàng. Trước những cuộc tấn công xâm lược của người Kim, trong lúc những tướng lĩnh, quan lại và nghĩa quân yêu nước vẫn kiên cường chống lại quân Kim và đã đánh bại chúng ở nhiều nơi, truy kích địch đến tận Hoàng Hà, thu hồi được nhiều vùng đất đã mất thì Tống Cao Tông lại sợ hãi bỏ chạy xuống Hàng Châu (Triết Giang) và cuối cùng phải quy hàng quân Kim một cách nhục nhã: cầu xin vua Kim tha thứ, xin bỏ danh hiệu hoàng đế làm một kẻ bề tôi tôn thờ nước Đại Kim,… Năm 1234, nhà Kim nhanh chóng bị người Mông Cổ chinh phục, sau đó Mông Cổ kiểm soát 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống. Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra. Khi Hốt tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Kha, vua cai trị Mông Cổ.
Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ, để nhà Tống yên ổn trong một thời gian ngắn. Năm 1271 Nhà Nguyên của người Mông Cổ được thành lập. Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế lại phía sau. Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế.
Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị mới 9 tuổi, và được phong làm hoàng đế Đoan Tông. Vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan hay Mai Oa ở Đại Tự Sơn và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông. Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính mới 7 tuổi, lên kế vị. Ngày 19 tháng 3 năm 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng ở đồng bằng sông Châu Giang, một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn, kết thúc triều đại nhà Tống.