Tổng quan nghiên cứu

Thừa Thiên Huế là vùng đất cố đô hội tụ kho tàng di sản văn hóa đồ sộ của dân tộc với gần 400 năm lịch sử là thủ phủ của các chúa Nguyễn và kinh đô của triều Nguyễn. Nơi đây sở hữu Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1993 và Nhã nhạc cung đình Huế được vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại vào năm 2003. Bên cạnh đó, xứ Huế còn lưu giữ hơn 700 món ăn truyền thống trong tổng số hơn 1.700 món ăn của cả nước, cùng hàng chục lễ hội dân gian và làng nghề thủ công độc đáo. Tuy nhiên, nhận thức của công chúng phần lớn vẫn tập trung vào các công trình vật thể hữu hình, trong khi các giá trị phi vật thể đang đối mặt với nguy cơ mai một trước sự phát triển của kinh tế thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng thông tin về di sản văn hóa phi vật thể trên Báo Thừa Thiên Huế và Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2012 đến 2014. Qua đó, công trình làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong việc thực hiện chức năng thông tin, khai sáng nhận thức và thẩm định văn hóa của báo chí địa phương, đồng thời xây dựng hệ thống kiến nghị khoa học nhằm tối ưu hóa hiệu quả tuyên truyền. Báo Thừa Thiên Huế với khoảng 480 số báo xuất bản hằng năm và Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế với 3 chương trình chuyên đề mỗi ngày đóng vai trò huyết mạch trong việc định hướng dư luận xã hội. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp gia tăng chỉ số tiếp cận di sản của người dân từ mức 35% lên trên 75%, góp phần thúc đẩy du lịch bền vững và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận báo chí truyền thông hiện đại kết hợp với quan điểm văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trọng tâm lý thuyết xoay quanh lý thuyết chức năng báo chí bao gồm chức năng thông tin, chức năng khai sáng giáo dục, chức năng giải trí và chức năng giám sát phản biện xã hội. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận lý thuyết truyền thông đại chúng trong việc bảo tồn di sản, khẳng định báo chí là cầu nối chuyển tải tri thức văn hóa thành nhận thức và hành vi cộng đồng. Khung pháp lý của đề tài dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001 tại khoản 1 Điều 4 quy định về các dạng thức di sản phi vật thể và Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO.

Các khái niệm cốt lõi được làm rõ trong công trình gồm có di sản văn hóa phi vật thể, chức năng thẩm định giá trị văn hóa của báo chí, vai trò truyền thông đa phương tiện địa phương và cơ chế tiếp nhận thông tin của công chúng báo chí.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hơn 480 số Báo Thừa Thiên Huế và hàng trăm giờ phát sóng của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế trong mốc thời gian từ năm 2012 đến năm 2014. Tác giả tiến hành điều tra xã hội học với cỡ mẫu 300 phiếu khảo sát dành cho công chúng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu xác suất phân tầng theo các nhóm tuổi từ 18 đến 25 tuổi, 26 đến 45 tuổi và trên 45 tuổi nhằm đảm bảo tính đại diện cho nhiều đối tượng tiếp nhận khác nhau trong xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia nghiên cứu văn hóa Huế tiêu biểu, lãnh đạo cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên phụ trách mảng văn hóa - nghệ thuật. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích nội dung định lượng và phỏng vấn sâu định tính là nhằm vừa thống kê chính xác tần suất, dung lượng phản ánh, vừa bóc tách sâu sắc những rào cản nghiệp vụ và nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trong công tác thông tin báo chí.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về tần suất và dung lượng phản ánh, Báo Thừa Thiên Huế duy trì xuất bản hơn 120 tin bài văn hóa mỗi năm, trong khi Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế duy trì chuyên mục Ca Huế 2 số mỗi tuần trên sóng phát thanh và các chương trình truyền hình thực tế như Huế và những điểm đến với hơn 100 số phát sóng.

Thứ hai, mức độ quan tâm của công chúng đối với các chương trình văn hóa đạt tỷ lệ chung là 64,5%, tuy nhiên có sự chênh lệch lớn giữa các thế hệ. Nhóm khán giả trên 45 tuổi chiếm 72,3% lượng người theo dõi thường xuyên, trong khi nhóm thanh niên từ 18 đến 25 tuổi chỉ chiếm 24,1%.

Thứ ba, về chất lượng nội dung và hình thức, 58,4% công chúng đánh giá cao độ chuẩn xác và tính giáo dục của thông tin, nhưng chỉ có 31,8% người được hỏi cảm thấy hài lòng với hình thức thể hiện, kỹ thuật góc quay và âm thanh truyền hình.

Thứ tư, về tính tương tác hai chiều, khảo sát chỉ ra rằng chỉ có 14,2% công chúng từng gửi phản hồi hoặc đóng góp ý kiến về di sản cho cơ quan báo chí, cho thấy truyền thông địa phương vẫn chủ yếu vận hành theo cơ chế một chiều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những kết quả trên xuất phát từ việc báo chí địa phương đã làm rất tốt nhiệm vụ chính trị và định hướng xã hội. Báo và Đài đã bóc tách thành công ranh giới giữa sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan trong các sự kiện như Lễ hội điện Huệ Nam, Lễ tế Nam Giao, giúp người dân hiểu đúng giá trị nhân văn truyền thống. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất nằm ở phương thức thể hiện còn mang tính lối mòn, lời bình phóng sự nặng tính thuyết giảng, thiếu vắng các góc máy hiện đại và chưa ứng dụng kỹ thuật đồ họa tương tác.

So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung khảo sát trên báo in và tạp chí văn hóa, công trình này khẳng định ưu thế vượt trội của phát thanh và truyền hình trong việc truyền tải âm thanh, hình ảnh sống động của ca Huế và diễn xướng cung đình. Toàn bộ các phát hiện định lượng được minh họa rõ nét qua 5 bảng biểu thống kê trong luận văn, thể hiện sự đối sánh giữa tỷ lệ 58,4% hài lòng về nội dung với 31,8% hài lòng về hình thức, cùng biểu đồ cơ cấu công chúng tiếp cận theo độ tuổi cho thấy khoảng trống lớn ở nhóm độc giả trẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới cấu trúc nội dung và phong cách thể hiện báo chí. Ban Biên tập Báo Thừa Thiên Huế và Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế cần tăng 35% dung lượng các bài viết trải nghiệm, phóng sự khám phá thực tế về làng nghề và nghệ thuật truyền thống trong vòng 12 tháng tới, giảm bớt tính chất tường thuật hành chính đơn thuần.

Thứ hai, nâng cấp công nghệ sản xuất chương trình và thẩm mỹ nghe nhìn. Bộ phận kỹ thuật và quay phim của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế cần đầu tư thiết bị chuẩn độ phân giải cao, đa dạng hóa góc máy và cải tiến kỹ thuật thu âm hiện trường cho các làn điệu ca Huế, phấn đấu nâng chỉ số hài lòng về hình thức của khán giả từ mức 31,8% hiện tại lên trên 65% trong giai đoạn 2016 đến 2018.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số tương tác đa nền tảng. Ban Biên tập Báo điện tử cần phát triển chuyên trang số, tích hợp video ngắn và diễn đàn thảo luận trên mạng xã hội nhằm thu hút tối thiểu 50% lượng độc giả trẻ từ 18 đến 25 tuổi tham gia tương tác, đóng góp tư liệu di sản trong thời gian 18 tháng.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ phóng viên. Lãnh đạo hai cơ quan báo chí phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về di sản học và kỹ năng báo chí đa phương tiện cho 100% phóng viên theo dõi mảng văn hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và các nhà quản lý cơ quan báo chí truyền thông địa phương. Luận văn cung cấp mô hình thực chứng giúp tối ưu hóa khung giờ phát sóng cho hơn 480 số báo và hàng trăm chương trình phát thanh truyền hình, nâng cao hiệu quả tuyên truyền văn hóa.

Nhóm thứ hai là đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên trách mảng văn hóa - văn nghệ. Các dữ liệu phân tích giúp người làm báo nâng cao kỹ năng xử lý chất liệu di sản, cải thiện kỹ thuật viết lời bình và cách thức ghi hình phóng sự văn hóa phi vật thể.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý thuộc ngành văn hóa và du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu gợi mở các giải pháp truyền thông liên kết nhằm quảng bá hơn 700 món ăn di sản và chuỗi lễ hội Festival Huế, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí học, Truyền thông và Văn hóa học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống 300 mẫu điều tra xã hội học và 15 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia, hỗ trợ đắc lực cho các đề tài nghiên cứu truyền thông di sản.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Báo chí Thừa Thiên Huế có vai trò cụ thể như thế nào trong việc bảo tồn Nhã nhạc cung đình Huế và Ca Huế? Trả lời: Báo chí thực hiện vai trò giới thiệu, thẩm định và lưu giữ các làn điệu cổ. Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế phát sóng định kỳ 2 chương trình Ca Huế mỗi tuần, góp phần quảng bá các bài bản cổ và hỗ trợ đắc lực cho việc lập hồ sơ công nhận di sản quốc gia.

Câu hỏi 2: Báo chí địa phương đã xử lý hiện tượng tín ngưỡng dân gian như thế nào để tránh bị đánh đồng với mê tín dị đoan? Trả lời: Báo chí đã làm công tác gạn đục khơi trong thông qua các bài viết và phóng sự chuyên sâu về Lễ hội điện Huệ Nam và Lễ tế Nam Giao. Báo chí phân tích rõ nguồn gốc lịch sử, tôn vinh đạo hiếu và nét đẹp văn hóa tâm linh của cộng đồng.

Câu hỏi 3: Vì sao tỷ lệ công chúng trẻ từ 18 đến 25 tuổi tiếp cận thông tin di sản chỉ đạt 24,1%? Trả lời: Nguyên nhân chính là do hình thức truyền tải trên báo in và truyền hình truyền thống còn nặng tính giáo điều, thiếu các định dạng truyền thông số hiện đại. Giới trẻ hiện nay có xu hướng tiếp nhận thông tin nghe nhìn tương tác trên môi trường mạng xã hội.

Câu hỏi 4: Phương pháp chọn mẫu nào được tác giả sử dụng trong cuộc điều tra 300 phiếu khảo sát? Trả lời: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất phân tầng theo 3 nhóm tuổi và đa dạng ngành nghề trên địa bàn tỉnh. Cách tiếp cận này đảm bảo tính đại diện khoa học, phản ánh trung thực mức độ quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân.

Câu hỏi 5: Khung giờ phát sóng chương trình Ca Huế trên sóng Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế được bố trí ra sao? Trả lời: Trên sóng phát thanh, chương trình phát lúc 19h30 thứ 2 và thứ 5 hàng tuần. Trên truyền hình, chương trình có thời lượng 15 phút, phát vào 22h25 tối thứ sáu cuối tháng và phát lại vào 13h15, 16h45 các ngày thứ 2 và thứ 4 tiếp theo.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chức năng thông tin, giáo dục và thẩm định của báo chí đối với di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh giá thực trạng thông tin văn hóa trên 480 số báo in và hàng trăm chương trình phát thanh - truyền hình tại Thừa Thiên Huế giai đoạn 2012-2014.
  • Nhận diện 4 nhóm hạn chế then chốt về nội dung, hình thức thể hiện, mức độ thu hút người trẻ và năng lực tương tác hai chiều.
  • Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy từ 300 phiếu điều tra xã hội học và 15 cuộc phỏng vấn sâu với các nhà nghiên cứu văn hóa đầu ngành.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng tỷ lệ tiếp cận di sản của công chúng lên trên 75% trong thực tiễn.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đặt nền móng lý luận và thực tiễn cho việc kết hợp truyền thông đa phương tiện trong công tác bảo tồn di sản cấp địa phương. Kế hoạch triển khai tiếp theo trong giai đoạn 2016 đến 2020 đòi hỏi các cơ quan báo chí cần khẩn trương số hóa dữ liệu và đổi mới tư duy làm báo. Các nhà nghiên cứu và đội ngũ người làm báo hãy cùng chung tay đổi mới phương thức truyền thông di sản, đưa văn hóa truyền thống Cố đô Huế lan tỏa mạnh mẽ đến công chúng trong nước và quốc tế.