Tổng quan luận án
Công tác quản lý nhà nước (QLNN) về văn hóa là hoạt động quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, có tác động sâu rộng đến đời sống tinh thần và sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông mới và mạng xã hội mang lại khả năng kết nối không giới hạn, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều sự cố thông tin, khủng hoảng truyền thông trong lĩnh vực văn hóa (như các bất cập trong công tác tu bổ di tích, phát ngôn của nghệ sĩ, hiện tượng lệch chuẩn trên không gian mạng). Về mặt pháp lý, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm chính trị - xã hội của báo chí, truyền thông trong việc định hướng tư tưởng, thẩm mỹ, góp phần xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hành chính tại Việt Nam, mô hình tổ chức bộ phận truyền thông có sự phân hóa: một số bộ, ngành thành lập vụ chuyên trách (như Vụ Truyền thông - Ngân hàng Nhà nước; Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng - Bộ Y tế; Vụ Thi đua, khen thưởng và Truyền thông - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Vụ Thi đua, khen thưởng và Truyền thông ngoại giao - Bộ Ngoại giao; Vụ Thi đua, Khen thưởng và Tuyên truyền - Bộ Tài nguyên và Môi trường), một số thành lập trung tâm thông tin/truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Đường bộ Việt Nam), trong khi tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL), bộ phận chuyên trách về truyền thông mới được hình thành và công tác truyền thông chính sách (TTCS) tiếp cận dưới góc độ quản lý văn hóa vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu chưa được làm rõ một cách toàn diện. Từ những lý do lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021".
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề truyền thông phục vụ QLNN về văn hóa tại Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2021; nhận diện thực trạng truyền thông về văn bản pháp luật, chính sách, truyền thông về các sự kiện, hoạt động văn hóa và hiệu quả của công tác này; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông phục vụ QLNN về văn hóa của Bộ và ngành văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông gắn với QLNN về văn hóa, trình bày lý thuyết vận dụng trong luận án và xác lập khung phân tích của luận án.
- Đánh giá thực trạng truyền thông về văn hóa tại Bộ VHTTDL giai đoạn 2016 - 2021: tìm hiểu hoạt động của chủ thể truyền thông, khảo sát và đánh giá công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, truyền thông chính sách, văn bản, truyền thông sự kiện văn hóa, mức độ tiếp nhận thông tin của các đối tượng của truyền thông, hiệu quả truyền thông qua các kênh thông tin thuộc Bộ cũng như các nguồn lực để thực hiện công tác truyền thông về văn hóa của Bộ VHTTDL.
- Nhận diện những vấn đề đặt ra; đề xuất phương hướng, giải pháp và mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về văn hóa trong thời gian tới, phục vụ hiệu quả hơn cho công tác QLNN về văn hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ VHTTDL trên các phương diện: chủ thể truyền thông, phương thức truyền thông, nội dung truyền thông, đối tượng tiếp nhận thông tin và hiệu quả truyền thông.
- Đối tượng khảo sát:
- Các nhà quản lý văn hóa, người làm công tác truyền thông ở Bộ VHTTDL và địa phương (các Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Phòng Văn hóa, Trung tâm Văn hóa, thể thao các huyện/thị xã).
- Đại diện chủ thể sáng tạo văn hóa và người thực hành văn hóa: nghệ nhân, nghệ sĩ và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
- Người dân sinh sống tại một số địa phương.
- Phạm vi không gian: Các đơn vị QLNN thuộc Bộ VHTTDL và các cơ quan, đơn vị báo chí, truyền thông thuộc Bộ, trong đó tập trung nghiên cứu các cơ quan báo chí truyền thông do Bộ VHTTDL là cơ quan chủ quản (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc và Tạp chí Văn hóa nghệ thuật).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016 - 2021, mốc thời gian bộ phận chuyên trách về truyền thông được thành lập tại Bộ VHTTDL.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác truyền thông các văn bản chính sách do Bộ VHTTDL ban hành và các hoạt động, sự kiện văn hóa do Bộ tổ chức. Trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ, luận án đi sâu vào ba lĩnh vực nổi cộm: di sản văn hóa, quản lý lễ hội và điện ảnh.
Câu hỏi nghiên cứu
- Những thành tố nào tham gia hoạt động truyền thông phục vụ QLNN về văn hóa tại Bộ VHTTDL?
- Thực trạng công tác truyền thông gắn với QLNN về văn hóa tại Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2021 ra sao?
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ tốt cho công tác QLNN về văn hóa tại Bộ VHTTDL nói riêng và ở Việt Nam nói chung?
Giả thuyết nghiên cứu
- Các thành tố chính tham gia hoạt động truyền thông tại Bộ VHTTDL gồm chủ thể truyền thông, hoạt động truyền thông, đối tượng tiếp nhận thông tin, nguồn lực truyền thông gắn bó mật thiết với những nội dung và mục tiêu QLNN về văn hóa của Bộ.
- Công tác truyền thông về văn hóa tại Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2021 đã được quan tâm, đạt một số kết quả, góp phần hỗ trợ cho hoạt động QLNN, bám sát yêu cầu chung về truyền thông của cơ quan nhà nước, tuy nhiên, hiệu quả chưa cao.
- Để nâng cao hiệu quả truyền thông về văn hóa phục vụ công tác QLNN tại Bộ VHTTDL, cần một hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ, toàn diện và có tầm nhìn xa, đặc biệt cần phát huy vai trò và đầu tư phát triển bộ phận chuyên trách về truyền thông, xây dựng mô hình truyền thông về văn hóa chuyên nghiệp, bài bản.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm chủ đề chính:
1. Nhóm nghiên cứu về truyền thông và truyền thông chính sách
- Nghiên cứu quốc tế:
- Khởi đầu từ định nghĩa của Harold Lasswell (1927) và các nghiên cứu thực nghiệm của Hovland;
- Tác phẩm Bốn Lý thuyết Truyền thông (Four Theories of the Press) của Fred S. Siebert, Theodore Peterson và Wilbur Schramm (1956) đặt nền móng cho các nghiên cứu so sánh hệ thống truyền thông;
- Thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses & Gratifications) và quan điểm Cultural Studies của Stuart Hall về cơ chế mã hóa - giải mã thông điệp;
- Báo cáo Nhiều tiếng nói, một thế giới (Many Voices, One World) của Ủy ban Truyền thông Quốc tế thuộc UNESCO (1980) về sự bất bình đẳng trong dòng chảy thông tin toàn cầu;
- Tác phẩm Essentials of Mass Communication Theory của Arthur Asa Berger (1995) xác lập 5 yếu tố cơ bản: văn bản, nghệ sĩ, khán giả, xã hội và phương tiện truyền tải;
- Merrill Morris và Christine Ogan (1997) với lý thuyết "sự hiện diện xã hội" trong truyền thông máy tính;
- David Gauntlett (1998) với bài viết Ten Things Wrong With the Media Effects Model;
- Luận án của Lloyd, Blake Te'Neil (2000, Đại học Pennsylvania) về ảnh hưởng của video âm nhạc tới sự phát triển của thanh thiếu niên;
- John Fiske (1982, 1990, 2002) với Introduction to Communication Studies;
- Leah A. Lievrouw và Sonia Livingstone (2006) với Handbook of New Media;
- S. Price (2008) với Media Studies;
- Ryoo (2009) nghiên cứu tính lai tạp (hybridization) qua làn sóng văn hóa Hàn Quốc;
- Werner Joseph Severin và James W. Tankard Jr. (2014) với Communication Theories: Origins, Methods, Uses;
- Tranh luận trên diễn đàn Debate.org về tác động của mạng xã hội (58% nhận định tiêu cực, 42% đánh giá tích cực).
- Nghiên cứu trong nước:
- Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2014) với cuốn sách Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản;
- Phan Tân và Bùi Phương Đình (2014) về truyền thông và định hình chương trình nghị sự của dư luận xã hội;
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Truyền thông chính sách kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (2016) do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu Nhân dân và KOICA phối hợp tổ chức;
- Các công trình nghiên cứu về mạng xã hội và giới trẻ của Lê Thu Quỳnh (2003), Lê Thị Minh Trà (2004), Ngô Lan Hương (2006), Trần Thị Oanh (2009), Lê Minh Thanh (2010), Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2011), Hoàng Thị Hải Yến (2012), Nguyễn Minh Hạnh (2013).
2. Nhóm nghiên cứu về truyền thông trong lĩnh vực văn hóa và quản lý văn hóa
- Nghiên cứu quốc tế:
- Theodor W. Adorno (1949) với tác phẩm Philosophy of New Music tiếp cận từ trường phái Frankfurt và quan điểm phê phán công nghiệp văn hóa;
- Sách dịch Trung Quốc - Thách thức nghiêm trọng của thế kỷ 21 (NXB Văn hóa thông tin, 2004) bàn về bảo vệ văn hóa truyền thống trước làn sóng toàn cầu hóa;
- Kristin Thompson và David Bordwell (2012) nghiên cứu chiến lược phát triển và thao túng giá trị văn hóa của hãng phim Disney.
- Nghiên cứu trong nước:
- Các đề tài giai đoạn 2000-2005: Phạm Việt Long (2001), Nguyễn Thị Minh Phương và Nguyễn Thái Quỳnh Chi (2001), Tây Sơn (2004), Đỗ Nam Liên (2005);
- Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002);
- Bùi Hoài Sơn với các công trình Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội (2006), Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam (2008);
- Bùi Quang Thắng (2007) với nghiên cứu tác động của phương tiện truyền thông mới tới cư dân đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh;
- Nguyễn Quý Thanh (2011) với Internet - Sinh viên - Lối sống;
- Đề tài khoa học cấp Bộ Giải pháp truyền thông trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (qua khảo sát các hoạt động do Bộ VHTTDL thực hiện) được Bộ VHTTDL nghiệm thu năm 2019.
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc phân tích ảnh hưởng xã hội học của Internet, mạng xã hội đối với lối sống của giới trẻ, hoặc đánh giá truyền thông sự kiện đơn lẻ. Đề tài cấp Bộ năm 2019 bước đầu khảo sát việc tiếp nhận thông tin nhưng chưa tiếp cận theo góc độ truyền thông chính sách, chưa xem truyền thông là nguồn lực kiến tạo đồng thuận xã hội trong chu trình chính sách văn hóa và chưa đề xuất mô hình truyền thông chính sách chuyên trách cho Bộ VHTTDL. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về truyền thông chính sách và truyền thông văn hóa tiếp cận từ góc độ khoa học quản lý văn hóa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết
- Văn hóa: Được tiếp cận từ định nghĩa nhân học của Edward Burnett Tylor (1874 trong Primitive Culture), định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, định nghĩa của UNESCO và được cụ thể hóa theo phạm vi chức năng QLNN của Bộ VHTTDL (di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, bản quyền, thư viện, quảng cáo, văn hóa cơ sở, văn hóa dân tộc, văn học).
- Chính sách văn hóa: Tổng thể các nguyên tắc, biện pháp hành chính, ngân sách của Nhà nước can thiệp hoặc không can thiệp vào hoạt động văn hóa (UNESCO, Hội nghị liên Chính phủ Stockholm 1998 với 5 mục tiêu phát triển, sách Quản lý hoạt động văn hóa 1998, Nguyễn Văn Tình).
- Truyền thông: Quá trình trao đổi thông tin, tương tác hai chiều nhằm thay đổi nhận thức, điều chỉnh thái độ và hành vi (Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng). Quy trình gồm 6 yếu tố: Nguồn, Thông điệp, Kênh thông tin, Người nhận, Phản hồi, Nhiễu.
Bảng so sánh nhận diện Tuyên truyền và Truyền thông
(Theo Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng, 2014)
| Tiêu chí |
Tuyên truyền |
Truyền thông |
| Chủ thể và công chúng |
Đề cao (tuyệt đối hóa) chủ thể |
Đề cao công chúng |
| Phương thức tương tác |
Coi trọng áp đặt, một chiều |
Đề cao tương tác bình đẳng |
| Mục đích tiếp nhận |
Nhấn mạnh truyền đạt để chấp hành, có tính bắt buộc |
Coi trọng chia sẻ, tìm kiếm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt |
| Xử lý sự khác biệt |
Tiến tới tương đồng, đồng nhất bằng cách xóa bỏ sự khác biệt |
Gia tăng tương đồng, giảm dần sự khác biệt, bảo lưu sự khác biệt |
| Mô hình vận hành |
Mô hình truyền thông một chiều từ trên xuống |
Mô hình truyền thông hai chiều, đa chiều |
| Bản chất kinh tế |
Chủ yếu bao cấp vì mục đích tuyên truyền chính trị |
Là ngành kinh tế - dịch vụ xã hội phát triển (tập đoàn truyền thông) |
| Phạm vi áp dụng |
Các nước theo định hướng XHCN phổ biến dùng cả trong đối nội lẫn đối ngoại |
Phương Tây chủ yếu dùng truyền thông trong chính sách đối nội, dùng tuyên truyền trong đối ngoại |
- Truyền thông chính sách văn hóa (TTCSVH): Luận án đề xuất khái niệm mới: TTCSVH là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau.
- Năng lực truyền thông của công chúng: Xác định qua 4 cấp độ:
$$\text{Biết thông tin chính sách} \longrightarrow \text{Chủ động thảo luận, góp ý} \longrightarrow \text{Hiểu rõ chính sách} \longrightarrow \text{Tích cực thực thi}$$
- Cấp độ tiếp nhận truyền thông về văn hóa: Gồm 4 bước: Tiếp cận $\rightarrow$ Hiểu $\rightarrow$ Đánh giá $\rightarrow$ Chủ động tham gia.
- Phân loại phương thức truyền thông:
- Giao tiếp trực tiếp (tọa đàm, hội nghị, hội thảo, thảo luận nhóm);
- Phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội;
- Sản phẩm truyền thông trực quan;
- Ngôn ngữ nghệ thuật biểu diễn (âm nhạc, sân khấu kịch).
- Các nguồn lực truyền thông: Nguồn lực thông tin, nguồn vật lực (hạ tầng kỹ thuật, mô hình tòa soạn hội tụ) và nguồn tài lực.
2. Lý thuyết vận dụng: Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory)
Bắt nguồn từ quan niệm về "môi trường giả" của Walter Lippmann (1922 trong Public Opinion), nhận định của Bernard Cohen (1963) và được Maxwell McCombs cùng Donald Shaw chính thức hóa năm 1972 qua khảo sát cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968 tại Chapel Hill (Bắc Carolina). Thuyết khẳng định các cơ quan báo chí - truyền thông định hình mức độ quan tâm của công chúng đối với các vấn đề xã hội thông qua cách thức, tần suất và vị trí đăng tin. Lý thuyết này được Maxwell McCombs tiếp tục phát triển năm 1994.
Trong luận án, lý thuyết được minh chứng qua sự kiện Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 tại Hà Nội: Theo báo cáo rà soát của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong tuần cao điểm từ 22/11 đến 26/11/2021, đã có 1.144 tin, bài trên báo chí điện tử, 70 tin, bài trên chuyên trang tin điện tử, 397 tin, bài trên trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí và khoảng 300 trang Facebook đăng tải thông tin, tạo ra sự lan tỏa và định hướng dư luận xã hội đồng thuận với các chủ trương phát triển văn hóa.
3. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Tiếp cận liên ngành, lấy Khoa học quản lý văn hóa làm chủ đạo kết hợp với Văn hóa học, Xã hội học và Lý luận báo chí - truyền thông.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý hệ thống văn bản pháp quy, báo cáo tổng kết của các Cục, Vụ thuộc Bộ VHTTDL và các công trình khoa học trong, ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng dữ liệu thứ cấp kế thừa từ Đề tài khoa học cấp Bộ "Giải pháp truyền thông trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (qua khảo sát các hoạt động do Bộ VHTTDL thực hiện)" thực hiện trong 2 năm 2018-2019 với dung lượng 500 phiếu hỏi (phân bổ cho 2 nhóm: nhà quản lý và người dân).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Kế thừa kết quả phỏng vấn sâu của đề tài cấp Bộ và tiến hành phỏng vấn sâu bổ sung 30 cuộc đối với các nhà quản lý, người làm truyền thông, nghệ sĩ và chuyên gia.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên gia, nhà nghiên cứu uy tín trong lĩnh vực chính sách văn hóa và truyền thông.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng gồm: Phần Mở đầu (11 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (16 trang), Phụ lục (82 trang) và 3 chương nội dung chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về hoạt động truyền thông của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (41 trang)
- Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về truyền thông, truyền thông chính sách và quản lý văn hóa trong nước, quốc tế;
- Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, xác lập khung lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự và khung phân tích;
- Khái quát cơ sở pháp lý và tổ chức bộ máy của Bộ VHTTDL: Thành lập ngày 31/7/2007 (Nghị quyết số 01/2007/QH12) trên cơ sở hợp nhất Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao và tiếp nhận chức năng QLNN về gia đình; vận hành theo Nghị định 123/2016/NĐ-CP và Nghị định 79/2017/NĐ-CP. Cơ cấu gồm 21 cơ quan hành chính tham mưu, 62 đơn vị sự nghiệp công lập và 06 doanh nghiệp nhà nước;
- Thống kê mạng lưới báo chí, truyền thông trực thuộc Bộ VHTTDL (tính đến tháng 12/2021) gồm: 02 báo (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc), 02 tạp chí trực thuộc Bộ (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Tạp chí Làng Việt), Tạp chí Du lịch, Tạp chí Thể thao, Cổng Thông tin điện tử Bộ, 09 tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, 02 Trung tâm thông tin và 12 trang thông tin điện tử.
Bảng tổng hợp tổ chức và nhân sự các cơ quan báo chí chủ lực thuộc Bộ VHTTDL
| Cơ quan báo chí |
Văn bản pháp lý / Thời điểm thành lập |
Cơ cấu tổ chức |
Quy mô nhân sự |
| Báo Văn hóa |
Cơ quan ngôn luận của Bộ VHTTDL |
05 Ban chuyên môn (Trị sự; Thư ký; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chính trị - Xã hội; Báo Văn hóa điện tử) và 03 Văn phòng đại diện (TP.HCM, Đà Nẵng, Khánh Hòa) |
62 viên chức và người lao động (23 biên chế; 4 hợp đồng 68; 35 lao động 11 tháng tự chủ lương) |
| Báo Điện tử Tổ quốc |
Thành lập ngày 01/9/2006 (tiền thân là Trang tin điện tử Tổ quốc của Bộ Văn hóa - Thông tin) |
05 Ban (Thư ký tòa soạn; Chính trị - Kinh tế - Quốc tế; Văn hóa - Văn nghệ; Khoa giáo - Chuyên đề và Bạn đọc; Trị sự) và 02 Văn phòng đại diện (TP.HCM & ĐBSCL; Miền Trung & Tây Nguyên) |
Đơn vị sự nghiệp phục vụ công tác thông tin điện tử |
| Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật |
Quyết định số 3615/QĐ-BVHTTDL ngày 18/10/2019; sáp nhập 6 tạp chí chuyên ngành theo QĐ 2066/QĐ-BVHTTDL và 2068/QĐ-BVHTTDL từ ngày 01/01/2020 |
Phòng Hành chính, Tổng hợp; Phòng Quảng cáo, phát hành; Ban Biên tập; Ban Văn hóa nghệ thuật; Ban Tạp chí điện tử; 01 Văn phòng đại diện tại TP.HCM |
Lãnh đạo gồm Quyền Tổng Biên tập, 02 Phó Tổng Biên tập cùng đội ngũ biên tập viên |
Chương 2: Thực trạng truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021 (57 trang)
- Đánh giá hoạt động của chủ thể truyền thông và các kênh truyền thông chủ lực trực thuộc Bộ;
- Khảo sát thực trạng công tác phát ngôn, cung cấp thông tin định kỳ, đột xuất cho báo chí và hoạt động xử lý các sự cố truyền thông;
- Phân tích thực trạng truyền thông quy trình xây dựng, ban hành và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, chính sách văn hóa;
- Khảo sát thực trạng truyền thông các sự kiện, hoạt động văn hóa lớn do Bộ VHTTDL chủ trì tổ chức;
- Đi sâu phân tích hoạt động truyền thông tại 3 lĩnh vực quản lý có nhiều vấn đề nổi cộm:
- Lĩnh vực di sản văn hóa: Truyền thông xung quanh các sai phạm, xung đột trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích;
- Lĩnh vực quản lý lễ hội: Quản lý và định hướng dư luận tại các lễ hội, Festival;
- Lĩnh vực điện ảnh: Quá trình truyền thông dự thảo Luật Điện ảnh và tổ chức các kỳ Liên hoan phim;
- Đo lường mức độ tiếp nhận, nhận thức của công chúng và đánh giá thực trạng các nguồn lực truyền thông (nguồn lực thông tin, nguồn vật lực - hạ tầng công nghệ và nguồn tài lực).
Chương 3: Những vấn đề đặt ra, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông phục vụ quản lý nhà nước về văn hóa (35 trang)
- Tổng kết các hạn chế, điểm nghẽn: Thiếu tính chủ động trong dự báo và xử lý khủng hoảng truyền thông; cơ chế phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan QLNN và cơ quan báo chí còn bất cập; nguồn lực tài chính và hạ tầng công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số;
- Xác định phương hướng, mục tiêu truyền thông văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0;
- Đề xuất hệ thống giải pháp: Hoàn thiện quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin; xây dựng mô hình truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp tại Bộ VHTTDL; đầu tư trang thiết bị kỹ thuật theo mô hình tòa soạn hội tụ; đào tạo nâng cao kỹ năng xử lý thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa; đa dạng hóa các phương thức truyền thông, đặc biệt là khai thác hiệu quả mạng xã hội và các hình thức biểu đạt nghệ thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về truyền thông trong quản lý nhà nước về văn hóa, đặt truyền thông trong mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý, chủ thể sáng tạo và đối tượng thụ hưởng văn hóa;
- Đề xuất định nghĩa mới về "Truyền thông chính sách văn hóa" (TTCSVH), làm rõ nội hàm, đặc thù và các cấp độ năng lực truyền thông của công chúng;
- Vận dụng thành công Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory) vào việc phân tích thực tiễn định hướng thông tin và tạo đồng thuận xã hội đối với các chính sách văn hóa tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng truyền thông của Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2021 qua 3 lĩnh vực trọng điểm: di sản văn hóa, quản lý lễ hội và điện ảnh;
- Chỉ rõ các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hạn chế trong công tác truyền thông của ngành văn hóa, đặc biệt là các rào cản về cơ cấu tổ chức bộ phận chuyên trách, cơ chế phát ngôn và hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ;
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi và mô hình tổ chức truyền thông chính sách chuyên nghiệp, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định, ban hành và thực thi chính sách của Bộ VHTTDL.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu điều tra xã hội học định lượng trong luận án sử dụng số liệu thứ cấp kế thừa từ đề tài khoa học cấp Bộ thực hiện trong giai đoạn 2018-2019 (500 phiếu hỏi). Phạm vi khảo sát thực tế mới chỉ tập trung vào 3 lĩnh vực nổi cộm (di sản, lễ hội, điện ảnh) và hệ thống 3 cơ quan báo chí trực thuộc Bộ (Báo Văn hóa, Báo Điện tử Tổ quốc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật), chưa thể bao quát toàn bộ các mảng nghiệp vụ khác do Bộ VHTTDL quản lý.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần triển khai các cuộc điều tra định lượng quy mô lớn, cập nhật dữ liệu sau năm 2021; mở rộng nghiên cứu sang các phương thức truyền thông đặc thù như truyền thông bằng ngôn ngữ nghệ thuật biểu diễn (Performance Arts Communication) và chiến lược truyền thông định vị thương hiệu văn hóa quốc gia trên trường quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để lãnh đạo Bộ VHTTDL, các Cục, Vụ, các Sở VHTTDL tại địa phương kiện toàn bộ phận truyền thông, chuẩn hóa quy trình phát ngôn, xử lý sự cố thông tin và xây dựng chiến lược truyền thông chính sách bài bản;
- Đối với cơ quan báo chí, truyền thông ngành văn hóa: Cung cấp khung tham chiếu về mô hình tòa soạn, phương thức tổ chức dòng chảy thông tin và cách thức phối hợp với các đơn vị chức năng nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền;
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Xã hội học văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "Truyền thông chính sách văn hóa" như thế nào?
Luận án định nghĩa: Truyền thông chính sách văn hóa là quá trình điều phối và quản lý dòng chảy thông tin về chính sách văn hóa, góp phần tác động, điều chỉnh mối quan tâm, sự tham gia đóng góp của các tầng lớp xã hội đối với chính sách văn hóa bằng các phương thức khác nhau. Quá trình này bao gồm các hoạt động truyền thông về chính sách và các hoạt động văn hóa nhằm thực hiện chính sách, hướng tới mục tiêu tạo sự đồng thuận xã hội để phát triển bền vững đất nước.
2. Ba lĩnh vực quản lý nhà nước nổi cộm được luận án lựa chọn đi sâu khảo sát là gì?
Luận án tập trung vào ba lĩnh vực có nhiều vấn đề bức thiết trong công tác quản lý:
- Quản lý di sản văn hóa (khảo sát công tác truyền thông xung quanh việc tu bổ, tôn tạo di tích);
- Quản lý lễ hội (truyền thông các hoạt động lễ hội, Festival);
- Điện ảnh (truyền thông quá trình xây dựng dự thảo Luật Điện ảnh và các kỳ Liên hoan phim).
3. Nguồn dữ liệu thực chứng của luận án được thu thập bằng những phương pháp nào?
- Dữ liệu định lượng: Sử dụng số liệu thứ cấp kế thừa từ Đề tài cấp Bộ năm 2018-2019 với 500 phiếu hỏi khảo sát 2 nhóm đối tượng (nhà quản lý và người dân);
- Dữ liệu định tính: Kế thừa dữ liệu phỏng vấn sâu của đề tài cấp Bộ và thực hiện bổ sung 30 cuộc phỏng vấn sâu mới với các nhà quản lý, người làm truyền thông, nghệ sĩ; kết hợp phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
4. Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự được tác giả minh chứng qua sự kiện thực tế nào?
Lý thuyết được minh chứng qua công tác truyền thông tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 tại Hà Nội. Trong tuần cao điểm (22/11 - 26/11/2021), hệ thống báo chí đã xuất bản 1.144 tin bài báo điện tử, 70 tin bài chuyên trang, 397 tin bài trang tổng hợp và khoảng 300 trang Facebook đăng tải thông tin, tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ và định hướng dư luận xã hội.
5. Cơ cấu nhân sự và tổ chức của Báo Văn hóa được nêu trong luận án như thế nào?
Tính đến thời điểm khảo sát, Báo Văn hóa có 62 viên chức và người lao động, gồm 23 biên chế, 4 hợp đồng lao động theo Nghị định 68 và 35 hợp đồng lao động 11 tháng (tự chủ trả lương từ nguồn thu). Bộ máy gồm Lãnh đạo Báo, 05 Ban chuyên môn nghiệp vụ và 03 Văn phòng đại diện tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Khánh Hòa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Truyền thông về văn hóa tại Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016-2021" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa, tiếp cận theo hướng liên ngành giữa khoa học quản lý, văn hóa học, xã hội học và lý luận báo chí - truyền thông. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, vận dụng Thuyết Thiết lập chương trình nghị sự và đề xuất khái niệm mới về truyền thông chính sách văn hóa cùng khung phân tích toàn diện. Thông qua việc đánh giá thực trạng công tác phát ngôn, truyền thông chính sách, sự kiện và khảo sát sâu 3 lĩnh vực di sản, lễ hội, điện ảnh tại Bộ VHTTDL, luận án đã chỉ rõ các điểm nghẽn về thể chế và nguồn lực. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và định hướng xây dựng mô hình truyền thông chính sách chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong giai đoạn mới.