phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc triển khai thành ba chƣơng - Chƣơng 1: Sự vận động của văn học Việt Nam thời đổi mới và hành trình sáng tạo của các nhà văn viết về ngƣời lính - Chƣơng 2: Những đặc trƣng cơ bản của sự thay đổi quan niệm về con ngƣời qua hình tƣợng ngƣời lính trong tiểu thuyết đầu thời kỳ đổi mới. - Chƣơng 3: Nghệ thuật thể hiện hình tƣợng ngƣời lính trong tiểu thuyết thời kỳ đầu đổi mới. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI ĐỔI MỚI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CÁC NHÀ VĂN VIẾT VỀ NGƢỜI LÍNH 1. Những chuyển biến của hoàn cảnh lịch sử - xã hội 1.
Hoàn cảnh lịch sử - xã hội Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nƣớc hoàn toàn thống nhất. Tiếng súng, tiếng bom đã ngừng vang trên mọi miền tổ quốc, nhân dân ta bắt đầu bƣớc vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong nền hòa bình, dân chủ. Đại hội toàn lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976) đã chỉ ra đƣờng lối: “Có chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc ta mới có kinh tế hiện đại do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập tự do và ngày càng phát triển phồn vinh. Đây chính là thời cơ để đất nƣớc vƣơn mình đứng dậy sau chiến tranh, bƣớc lên con đƣờng phát triển vững mạnh và lâu dài.
Tuy nhiên, những di chứng của hai cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề, gây ra rất nhiều khó khăn chƣa thể khắc phục trong mọi mặt của kinh tế - xã hội cũng nhƣ những tổn thƣơng, mất mát về tinh thần. Chữa lành đƣợc những vết thƣơng này là một nhiệm vụ lâu dài và gian khổ. Bên cạnh đó, các chủ trƣơng, chính sách mới của Đảng và nhà nƣớc vẫn còn đang bƣớc đầu xây dựng và hình thành nên không tránh khỏi việc sa vào lối mòn quan liêu, nóng vội, nặng kiến thức, thiếu thực tế. Đất nƣớc ta lại chịu cấm vận của các nƣớc thù địch, bị đóng cửa không thể giao lƣu kinh tế, văn hóa, xã hội với thế giới.
Cuộc chiến tranh lớn đã kết thúc nhƣng ở biên giới, những cuộc xung đột vẫn xảy ra tiêu hao sức ngƣời, sức của. Tất cả những lý do trên khiến cho tình hình kinh tế - xã hội trong những năm đầu sau chiến tranh rơi vào khủng hoảng nặng nề và không có nhiều khởi sắc. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhận thấy tình hình cấp bách của đất nƣớc, một lần nữa, Đảng và Nhà nƣớc đã kịp thời thực hiện đƣờng lối đổi mới để đƣa đất nƣớc thoát khỏi vũng lầy suy sụp. Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra những chủ trƣơng đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tƣ tƣởng, xã hội.
Kinh tế đã có những bƣớc khởi sắc đáng kể và bắt đầu đi lên. Đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện về mọi mặt. Chủ trƣơng đổi mới cũng mở cửa để giao lƣu và hội nhập quốc tế, tạo điều kiện phát triển cũng nhƣ kế thừa những nét đẹp trong các lĩnh vực khác nhau của nhân loại. Năm 1986 đƣợc coi là cột mốc đánh dấu bƣớc ngoặt của đất nƣớc, chính thức vƣơn lên từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu chịu nhiều tàn phá của mƣa bom, bão đạn.
Hoàn cảnh lịch sử cũng những thay đổi đáng kể trong đời sống kinh tế, hội nhập đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho những chuyển biển về văn hóa – tƣ tƣởng thời kỳ này. Những chuyển biến về xã hội, văn hóa - tư tưởng Trong hai cuộc chiến, điều quan trọng nhất là độc lập tự do của tổ quốc. Những năm tháng đó, cả đất nƣớc “có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên), cả đất nƣớc hƣớng về lá cờ đỏ sao vàng phấp phới. Ngƣời ta quên đi những lo toan vụn vặt, những mơ ƣớc cá nhân, những chuyện riêng tƣ để lo chuyện của tập thể, của cộng đồng.
Trong những năm tháng ấy, lòng yêu nƣớc đƣợc phát huy cao độ, con ngƣời đƣợc đánh giá ở tinh thần hy sinh vì lợi ích của đất nƣớc, ngƣời ta đƣợc ca ngợi khi sẵn sang gạt đi hạnh phúc của bản thân để cống hiến đời mình cho hạnh phúc chung của tổ quốc. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người dồn lại và thu hẹp vào một quan hệ duy nhất: sống – chết. Người ta phải sống phi thường, phi thường có thể là cao cả, nhưng phi thường cũng đồng thời là triệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thường mà vô cùng phong phú và phức tạp của con người, đẩy tất cả các quan hệ ấy về phía sau. (…) Ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy cả những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộc sống thường ngày… Hoà bình thì khác hẳn.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoà bình tức là trở lại đối mặt với cái bình thường hằng ngày, cái bình thường mà muôn thủa, tất cả những nhiêu khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh con người từng giờ ở khắp mọi nơi.” Hòa bình đã trở lại, con ngƣời bƣớc ra từ cuộc chiến phải đối mặt với cuộc sống phức tạp và đời thƣờng, các giá trị, các chuẩn mực truyền thống lung lay, chấp chới bên cạnh các giá trị, các chuẩn mực của đời sống cá nhân thời bình. Từ đây, hạnh phúc cá nhân, các nhu cầu của cá nhân về vật chất và tinh thần đƣợc đề cao, ngƣời ta tự hỏi về vị trí của cái tôi, ngƣời ta nghĩ lại về quá khứ, ngƣời ta nghi vấn và phát hiện ra những mặt đa chiều, phức tạp của cuộc sống mà một thời đã phải buộc chôn giấu. Kinh tế thị trƣờng đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ xã hội, đồng tiền lên ngôi và chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống. Đồng tiền đổi trắng thay đen, quyết định số phận con ngƣời, xã hội đảo điên vì sự đen – bạc.
Tâm lý sòng phẳng, ăn thua, tranh giành len lỏi và đẩy lùi các giá trị đạo đức, khiến xã hội phân hóa một cách rõ rệt. Cùng với nền kinh tế, nhu cầu thỏa mãn về vật chất của xã hội tăng cao. Thay vì cuộc sống với sự đáp ứng vật chất ăn mặc tối thiểu nhƣ trong chiến tranh, xã hội phát triển các tiện nghi ngày càng phong phú nhằm thỏa mãn con ngƣời. Việc mở cửa hội nhập và giao lƣu với thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và phát triển không chỉ kinh tế mà cả văn hóa – xã hội.
Trƣớc đây, văn hóa – xã hội nƣớc ta bị bó hẹp trong sự lạc hậu, bảo thủ, trình độ tri thức giới hạn. Đến thời kỳ đổi mới, các tƣ tƣởng mới mẻ về triết học, mỹ học,… du nhập đã làm thay đổi nhận thức của cả xã hội. Con ngƣời nhìn cuộc sống một cách phong phú, đa chiều và sâu sắc hơn, con ngƣời đánh giá bản thân và đánh giá cộng đồng trong nhiều hệ quy chiếu, con ngƣời đƣợc tiếp xúc với nhiều nguồn tri thức, thông tin đa tuyến nên thoát khỏi sự ràng buộc, một chiều về tƣ tƣởng. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói tóm lại, những tiền đề về kinh tế, tƣ tƣởng, xã hội – văn hóa sau chiến tranh, nhất là sau năm 1986 là những tiền đề tạo nên sự đổi mới toàn diện và sâu sắc trên mọi mặt của đời sống đất nƣớc.
Đây cũng là những tiền đề quan trọng và là điều kiện cần thiết thúc đẩy nhu cầu đổi mới về văn học sau năm 1975. Nhu cầu đổi mới của văn học Những chuyển biến về tƣ tƣởng, xã hội – văn hóa tất yếu dẫn đến nhu cầu đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975. Nền văn học sau 1975 đƣợc gọi là nền văn học hậu chiến – nền văn học bƣớc ra từ chiến tranh. Nếu nhƣ trong chiến tranh, văn học mang vai trò lịch sử, văn học cần phản ánh những chiến thắng và những ngƣời anh hùng, văn học cần nêu cao tinh thần, cổ vũ chiến đấu và hƣớng đến chiến thắng thì sau năm 1975, khi lịch sử đã thay đổi, văn học không thể mang “chiếc áo thời chiến” nữa.
Những thay đổi về tƣ tƣởng, xã hội – văn hóa đòi hỏi một nền văn học phù hợp và năng động hợn. Xã hội khẩn thiết yêu cầu một nền văn học có thể tái hiện bức tranh cuộc sống sau chiến tranh, có thể bám sát hiện thực thay vì đi theo một lối mòn cũ. Các hệ giá trị, chuẩn mực thẩm mỹ thay đổi cũng yêu cầu văn học phải có sự cách tân phù hợp và kịp thời nếu không sẽ rơi vào vũng bùn lạc hậu, cũ kỹ. Sự giao lƣu, hội nhập với thế giới cũng đem tới cho văn học những luồng gió tƣ tƣởng mới.
Các nhà văn tự soi chiếu vào các nền văn học thế giới, soi chiếu vào thế giới đa chiều để nhận ra sự cấp thiết cần thay đổi. Văn học sẽ không thể phát triển và bƣớc tiếp nếu từ chối và đáp ứng chậm trễ nhu cầu đổi mới đang đƣợc đặt ra. Sự vận động của văn học thời kỳ đổi mới và sự thay đổi quan niệm về con ngƣời Văn học Việt Nam đã trải qua những dấu mốc thay đổi quan trọng trong quá trình phát triển, kể từ nền văn học trung đại. Có thể nhận thấy rõ rệt rằng, để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu bức thiết của lịch sử, văn học luôn chuyển mình cả về tƣ 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣởng và nghệ thuật cho phù hợp.
Văn học đã có những cách tân, đã hòa mình vào dòng chảy của văn học thế giới, đã có những thành tựu chói lọi trong giai đoạn 1930-1945. Từ 1945-1975, văn học là ngƣời thƣ ký cổ vũ cho chiến thắng lịch sử dân tộc, văn học mang đậm tính ngợi ca hào hùng, văn học mang vai trò của ngọn cờ dựng nƣớc và giữ nƣớc. Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, văn học bƣớc vào giai đoạn chơi vơi, tìm hƣớng đi mới, tìm tòi những khía cạnh mới để chuẩn bị cho cái lắc mình dữ dội vào điểm mốc năm 1986. Có thể nói, năm 1986 đánh dấu bƣớc ngoặt trọng đại lớn trong lịch sử văn học.
Văn học trước 1975 Đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp khởi đầu cho những năm tháng đau thƣơng của dân tộc, văn học bƣớc vào giai đoạn chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học của cái tôi.