Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Triết học văn hóa Mối quan hệ giữa triết học và văn hóa đã có ngay khi triết học mới hình thành. Nhưng chỉ đến thế kỷ XVIII, khi đã trở thành một khái niệm độc lập văn hóa mới trở thành một vấn đề nghiên cứu mới của triết học [15.
Người đầu tiên tiếp cận văn hóa như một chỉnh thể là I. Trước ông, các nhà triết học đã tiếp cận văn hóa bằng những con đường khác nhau, hoặc theo chủ nghĩa nhân đạo coi văn hóa là một biểu hiện của đạo đức, hoặc theo chủ nghĩa duy lý coi văn hóa là mặt đối lập với tự nhiên. Kant hiểu văn hóa như chính hoạt động của con người, các giá trị là kết quả của hoạt động này. Văn hóa được nghiên cứu trong tính chỉnh thể, năng động, trong tính thống nhất của lịch sử được thể hiện ở quá trình tiếp nối từ thế hệ này đến thế hệ khác, trong mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động có mục đích của con người với tự nhiên và xã hội.
Kant, lịch sử của loài người được thực hiện theo hai phương diện, phương diện tự nhiên và phương diện trí tuệ. Để hiểu xã hội, con người phải khám phá ra những quy luật phát triển của lịch sử được ẩn dấu dưới vẻ ngẫu nhiên của các sự kiện, đó là cái bản tính. Con người luôn đi tới những mục đích thầm kín của cái bản tính như theo một sự chỉ dẫn đường. Văn hóa thể hiện khả năng con người biết tự đặt ra mục đích cho mình.
Mục đích là sự tổng hợp của giác tính, lý tính trong sự đặc thù của tộc loại người như một bộ phận của tự nhiên. Văn hóa thể hiện vị trí của con người trong mối quan hệ với thế giới, là con đường đi đến cái bản tính. Khác hẳn với những người đi trước, Hegel coi sự vận động sáng tạo ra văn hóa là sự vận động đến cái tuyệt đối. Hegel xem tư duy như là quá trình vận động và phát triển của văn hóa nhân loại.
Khái niệm không chỉ là từ ngữ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay thuật ngữ mà là thể hiện phương thức, hình thức hoạt động của con người trong quá trình trao đổi với tự nhiên. Trong hoạt động hiện thực, con người đã đối tượng hóa hình thức của tư duy vào thế giới tự nhiên. Văn hóa là phương thức hoạt động của con người. Lịch sử phát triển của văn hóa nhân loại cũng chính là lịch sử tinh thần của nhân loại, lịch sử phát triển của tư duy loài người.
Tuy nhiên, Hegel coi hoạt động văn hóa như một hình thức hoạt động của ý niệm tuyệt đối, mang tính thứ nhất, là cái đầu tiên, không cần một tiền đề nào bên ngoài. Còn hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo ra văn hóa là cái thứ hai, là phương tiện để ý niệm tuyệt đối tự nhận thức lại mình, là sự tồn tại dưới dạng khác của ý niệm tuyệt đối, sự tha hóa của tư duy vô hạn. Bước sang thế kỷ XIX, XX, văn hóa trở thành vấn đề cấp bách của triết học hiện đại.Cátxirơ - nhà triết học người Đức, đại biểu của chủ nghĩa Kant mới, đại biểu cho cách tiếp cận biểu tượng về văn hóa. Văn hóa là sự đa dạng của các hình thức khác nhau như ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật và nhận thức lý luận.
Các hình thức văn hóa này tạo thành một chỉnh thể nhờ có sự thống nhất bên trong. Đến lượt mình, mỗi hình thức văn hóa lại là sự đa dạng của các nhân tố văn hóa và các nhân tố này cũng có sự thống nhất bên trong để làm cho mỗi hình thức cũng lại là một tiểu chỉnh thể. Nhiệm vụ của triết học văn hóa là chỉ ra mỗi một hình thức nêu trên là cái gì và ý nghĩa của chúng ra sao? Chúng hoàn thành chức năng như thế nào? Ngôn ngữ thần thoại, nghệ thuật, tôn giáo quan hệ với nhau bằng cách nào? Cái gì phân biệt chúng và cái gì liên kết chúng với nhau? Như vậy, theo ông, toàn bộ sự đa dạng của văn hóa chỉ là sự thể hiện vị trí tinh thần trong tự nhiên, nhưng đó không phải là tự nhiên tự nó mà là tự nhiên đã được nhân hóa. Biểu tượng là sự tổng hợp tính đa dạng cảm tính về mặt hình thức, là khả năng kiến tạo thế giới một cách sáng tạo.
Theo ông, toàn bộ quá trình nhận thức của con người 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nhận thức về biểu tượng. Biểu tượng là nhân tố chung cho mọi hình thức văn hóa và có khả năng tạo nên sự thống nhất trong chúng, đồng thời giữ gìn sự độc đáo của chúng.Schweitzer nhà triết học người Đức cho rằng triết học văn hóa nghiên cứu cái đặc thù của văn hóa theo hướng tiến bộ, gắn với đạo đức. Văn hóa là bất kỳ khả năng tiến bộ nào ở cả trong hoạt động vật chất lẫn hoạt động tinh thần của con người. Triết học hiện thời chỉ ở mức độ lý luận thuần túy, đề cập đến bộ máy lôgic hình thức, bởi thế sự sáng tạo triết học bị chuyển thành sự sáng tạo của các hình thức tư duy.
Nhưng nhờ có những luận triết học, chúng ta có thể mô tả các lớp bề ngoài của tồn tại riêng biệt (tự nhiên, xã hội, văn hóa) nhưng không thể thâm nhập sâu vào đặc thù của chúng. Nếu chỉ thuần túy lý luận thì không thể nghiên cứu được bản chất của văn hóa, mà kìm hãm sự sáng tạo văn hóa. Triết học muốn nghiên cứu văn hóa trong toàn bộ chỉnh thể của nó phải có sự kết hợp giữa đạo đức học và lý luận nhận thức, phải luận chứng cho sự thống nhất của hai loại tiến bộ vật chất và tiến bộ tinh thần, triết học phải suy ngẫm về con người thực, cuộc sống thực. Như vậy, vấn đề mối quan hệ giữa triết học và văn hóa đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, triết học văn hóa chỉ là sự biến dạng của triết học lịch sử, có ý kiến cho rằng triết học văn hóa khác biệt với triết học lịch sử và mới được hình thành vào đầu thế kỷ XIX; một số khác thì khẳng định rằng, văn hóa thực sự trở thành một khái niệm khoa học cùng với sự phát triển của của chủ nghĩa tư bản và chỉ trong triết học cổ điển Đức lần đầu tiên nó mới được xem xét và nghiên cứu như một chỉnh thể. Văn hóa là một hiện tượng xã hội độc đáo, đa dạng và phức hợp, vì thế trong việc tìm kiếm bản chất của văn hóa, tất yếu phải có lý luận về nó, triết học văn hóa ra đời đáp ứng yêu cầu đó. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Triết học Macxit tiếp cận văn hóa bằng việc vận dụng nhận thức duy vật lịch sử của C.Mác làm cơ sở phương pháp luận của mình, khẳng định văn hóa là một hiện tượng xã hội, để hiểu bản chất của nó thì không có con đường nào khác là nghiên cứu văn hóa trong chính sự chuyển động và phát triển của đời sống xã hội. Như vậy, trước đây, việc nghiên cứu văn hóa chủ yếu ở trạng thái tĩnh, xem đời sống xã hội nói chung và văn hóa nói riêng là có sẵn, lý giải đời sống xã hội chỉ dừng lại ở cấp độ hệ thống, theo lý luận hệ thống.
Cách tiếp cận giá trị học quan tâm đến mối quan hệ giữa giữa bộ phận và hệ thống trên góc độ giá trị; tiếp cận hoạt động chú trọng cấu trúc và chức năng; tiếp cận nhân cách lại giải thích mối quan hệ tiền đề và kết quả của hệ thống; tiếp cận ký hiệu học chỉ lưu ý đến phương tiện truyền tin của hệ thống văn hóa. Kết quả tất yếu của phương pháp đó là coi văn hóa chỉ đơn giản là chính trị, khoa học công nghệ, nghệ thuật, lối sống… Điều đó đã đẻ ra những con người méo mó, những con người thuần chính trị, thuần tôn giáo hay nghệ thuật, chỉ cần chính trị, đạo đức hay nghệ thuật là giải quyết xong mọi vấn đề của đời sống con người. Chỉ trong lý luận biện chứng về xã hội, chúng ta mới thấy rõ quá trình vận động của văn hóa, mới hiểu bản chất, vai trò của nó trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải sử dụng các phương pháp của triết học để nghiên cứu văn hóa.
Triết học văn hóa ra đời nhằm giải quyết những yêu cầu mang tính cấp thiết của văn hóa. Sản phẩm của các nhà triết học là đáp ứng yêu cầu của thời đại, của văn hóa. Để đạt được một kết quả như vậy thì cần thiết phải thừa nhận tính đa dạng và các nền văn hoá khác nhau, và thừa nhận triết học tự nó là một sản phẩm của văn hoá mà có thể làm lan tỏa và phát triển văn hoá. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hơn nữa, còn có một lý do chính đáng để tin rằng triết học xuất hiện từ văn hoá; rằng, mối quan hệ giữa triết học và văn hoá không phải là sự vô tình và ngẫu nhiên.
Triết học xuất hiện từ văn hóa. Văn hoá cho thấy cả ý nghĩa của những câu hỏi mà triết học đưa ra và tìm kiếm câu trả lời lẫn cả những phương pháp hoặc cách thức để chúng ta tìm kiếm câu trả lời. Tuy nhiên, do khả năng có thể vượt lên tính đặc thù và tính cục bộ nên triết học có thể tìm cách để đáp ứng một số mục tiêu của tính hiện đại. Có thể kết luận triết học không chỉ xuất hiện từ văn hoá, mà còn có thể không bao giờ tách khỏi văn hoá.
Nhưng trước khi có thể đánh giá luận điểm này một cách toàn thể, chúng ta cần xem xét vế đầu của nó - triết học xuất phát từ văn hoá có nghĩa là gì và đâu là cơ sở để khẳng định như vậy. Ở mức độ trần tục nhất, người ta có thể nói rằng triết học xuất hiện từ văn hoá theo nghĩa văn hoá là một phần, hoặc ảnh hưởng đến môi trường vật chất là nơi nảy sinh ra những vấn đề triết học. Ví dụ, văn hoá tạo ra những cơ hội và đặc tính của thời gian nhàn rỗi và nói chung, nó chỉ có ở những nơi con người được giải phóng khỏi các nhu cầu thiết yếu nhằm duy trì cuộc sống, khi họ có thời gian rỗi để dành cho suy tư triết học.