Chương 1 QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ GIA ĐÌNH Thời kỳ lịch sử Cổ - Trung đại, Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của thế giới. Giai đoạn này, Trung Quốc có nhiều phát minh vĩ đại như phát minh ra chữ viết, giấy, nghề in, thuốc súng, thiên văn học… Cùng với Ấn Độ và các dân tộc phương Đông khác, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều trường phái triết học lớn, là chiếc nôi của nhiều nhà tư tưởng. Trong lịch sử cũng như hiện tại việc đánh giá vai trò của triết học, tôn giáo Trung Quốc đối với sự phát triển của các nước chịu ảnh hưởng Hán hóa vẫn được nhiều người quan tâm bàn luận. Trong đó, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời trong thời Xuân Thu - Chiến quốc, là giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội Trung Hoa cổ đại trong quá trình chuyển biến sang xã hội phong kiến, kéo dài từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên miêu tả thời kỳ này là thời đại “vương đạo suy vi”, “bá đạo” cường thịnh lấn át “vương đạo”, chế độ tông pháp của nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con” [72, tr. Trong bối cảnh xã hội như vậy, các nhà tư tưởng có tâm huyết đua nhau tìm kiếm nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm ổn định trật tự xã hội. Đây là thời kỳ tư tưởng triết học Trung Quốc phát triển nở rộ, nhiều triết thuyết xuất hiện như: Nho gia, Pháp gia, Đạo gia, Mặc gia,… Người ta gọi đó là thời kỳ “bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Trong số đó, Nho giáo là một trong những học thuyết có sức sống lâu dài nhất và Khổng Tử (551-479 TCN) là người có công sáng lập trên cơ sở tổng kết lịch sử và nâng thành một học thuyết có hệ thống.
Các triều đại phong kiến Trung Quốc xem Khổng Tử là người thầy của muôn đời “vạn thế sư biểu”. Khổng Tử cho rằng: xã hội loạn lạc là bởi con 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người “vô đạo”, cần đưa con người trở về “hữu đạo” bằng con đường giáo hóa. Nghĩa là muốn con người trở nên hữu đạo cần phải dạy bảo, khuyên răn ấy gọi là giáo. “Đạo” nhờ có “giáo” mới vững vàng, sâu sắc, rộng khắp.
Nho giáo coi gia đình là cơ sở của xã hội nên nơi đầu tiên tiến hành giáo hóa đó là gia đình. Nho giáo còn nhấn mạnh việc “trị quốc”, “bình thiên hạ” phải bắt đầu từ “tu thân”, “tề gia” - đó là những tư tưởng cơ bản của Nho giáo để giáo hóa con người, đều lấy điểm khởi đầu là gia đình để góp phần ổn định trật tự xã hội. Mỗi thời điểm lịch sử đều có những quan điểm khác nhau nhưng về cơ bản các nhà Nho đời sau tiếp tục bổ sung và phát triển quan điểm của Khổng Tử về vấn đề này. Quá trình hình thành và phát triển quan niệm của Nho giáo về gia đình 1.
Quan niệm của Nho giáo Tiên Tần về gia đình (Thế kỷ VI trước Công nguyên - Thế kỷ III trước Công nguyên) Sự hình thành và phát triển của Nho giáo thời Tiên Tần gắn liền với tên tuổi của người sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) và hai nhà tư tưởng lớn là Mạnh Tử (371 - 289 Tr.CN) và Tuân Tử (298 - 238 Tr. Thời đại Khổng Tử là thời đại suy tàn của chế độ nô lệ và chế độ sơ kỳ phong kiến đang lên, mệnh lệnh “Thiên tử” nhà Chu không còn được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi. Nạn chư hầu chiếm ngôi “Thiên tử”, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, cha giết con, anh hại em, vợ lìa chồng thường xuyên xảy ra… Để lập lại trật tự xã hội, các nhà Nho chủ trương dùng “đức trị”. Có thể nói, “Nhân” là quan niệm tiêu biểu trong tư tưởng Khổng - Mạnh, trong đó “Hiếu đễ” là gốc của Nhân.
Hai chữ “Hiếu”, “Đễ” là biểu hiện của mối quan hệ cha con, anh em trong gia đình. Trong học thuyết Nho giáo, gia đình là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa có nhiều ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống con người. Coi gia đình là cơ sở của xã hội, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nho giáo nêu cao nguyên lý thiên hạ quốc gia và dẫn giải rằng: gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là nhà, gốc của nhà là bản thân (Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, gia chi bản tại thân) [14, tr. Chính vì thế, muốn trị nước trước hết phải yên nhà (Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia) [15, tr.
Bậc quân tử trước hết phải làm cho nhà mình tề chỉnh thì dân chúng mới làm theo, do đó mà tề chỉnh được mọi nhà dân, trị yên được cả nước. “Một nhà nhân hậu thì cả nước dấy lên nhân hậu. Một nhà lễ nhượng thì cả nước dấy lên lễ nhượng” (Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng) [15, tr. Đạo Khổng xem gia đình là một trong ba khâu không thể thiếu của hoạt động con người: Tu thân, tề gia, trị quốc.
Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình. “Cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là gia đạo chính”. Trong ba mối quan hệ (cha con, chồng vợ, anh em) làm nên cái gọi là “gia đạo chính” ấy, thì quan hệ cha con, anh em tiêu biểu bằng chữ Hiếu và chữ Đễ, đã được Nho giáo tôn lên rất cao, đặt vào một vị trí đặc biệt quan trọng, trở thành cốt lõi của các quan hệ trong toàn xã hội. Nho giáo rất chú trọng yếu tố giáo dục gia đình, coi giáo dục gia đình là toàn bộ giáo dục xã hội.
Khổng Tử quan niệm, đạo đức gắn liền với chính trị, chính trị chẳng qua là sự mở rộng của đạo đức. Trong học thuyết của ông, đạo đức gắn liền với chính trị, quan hệ chặt chẽ với chính trị, bởi vì nó dựa trên cơ sở huyết thống, lấy huyết thống để xác định liều lượng đậm nhạt của nhân ái. Cho nên, quan hệ huyết thống trong gia đình là cơ sở học thuyết nói về người quân tử chú tâm vào gốc rễ, gốc rễ có vững thì đạo mới phát sinh được và Hiếu Đễ chính là gốc rễ của Nhân, là hạt nhân của nội dung giáo dục đạo đức. Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong việc xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những quan hệ trong toàn xã hội, trong việc xây dựng những tình cảm và đức tính tốt trong gia đình, từ đó vun đắp chúng trở thành những tình cảm và đức tốt trong đạo thờ vua, trị nước.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nho giáo nói không che đậy về chủ đích chính trị của việc xây dựng đạo đức gia đình: “Hiếu là để phụng sự nhà vua đấy, Đễ là để phụng sự bề trên đấy, Từ là để sai khiến dân chúng đấy” (Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giả sở dĩ sự trưởng giã, Từ giả sở dĩ sử chúng giã) [15, tr. Nho giáo vì thế rất coi trọng việc giáo dục trong gia đình. Đó là trường học đầu tiên để giáo dục con người đi vào xã hội. “Thân yêu cha mẹ mình, vì đó mà cư xử có nhân với người đời” (Thân thân, nhi, nhân dân) [14, tr.
Cũng từ quan điểm huyết thống, Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa những thành viên trong cùng một gia đình, một dòng họ. Nho giáo kêu gọi họ yêu thương đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình, của dòng họ. Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của cha ông với những gia huấn, gia ngữ được lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ cúng ông bà cha mẹ trong nhà gắn với việc thờ cúng tổ tiên trong họ, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả.
đều góp phần làm khắng khít thêm các mối quan hệ trong gia đình, gia tộc. Đã có nhiều biểu hiện tốt đẹp của tình người được nảy sinh từ đó. Gia đình trở thành hòn đá tảng của lâu đài phong kiến. Từ đạo đức trong gia đình đến chính trị ngoài xã hội đều có liên quan đến nhau.
Cũng vì vậy, muốn đánh giá được phẩm chất của một người ở ngoài xã hội, muốn xem có nên cân nhắc và sử dụng họ không, trước tiên người ta phải xem tư cách, thái độ của người ấy trong gia đình ra sao. Có đối xử tốt trong gia đình, mới có thể đối xử tốt ngoài xã hội. “Bậc quân tử có ăn ở hợp lý ở trong nhà, mới có thể dạy người trong nước” (Nghi kỳ gia nhân, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân) [15, tr.20], và “đã là người hiếu đễ mà lại thích phạm thượng điều đó có ít thôi. Đã không thích phạm thượng mà lại thích làm loạn thì điều đó chưa có bao giờ” (Kỳ vi nhơn giã, hiếu đễ, nhi háo phạm thượng giả, tiển hỹ.
Bất háo phạm thượng, nhi háo tác loạn giả, vi chi hữu giã) [12, tr. Từ đó, Nho giáo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẳng định rằng sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh mẽ, thậm chí quyết định sự thành công trong việc trị nước. “Đem những điều ấy ra mà thi thố trong thiên hạ thì không có điều gì mà không làm được” (Thố chư thiên hạ vô sở bất hành) (lễ ký). Có thể nói, toàn bộ giáo dục gia đình theo Nho giáo nhằm tạo nên “phụ phụ tử tử, huynh huynh đệ đệ” (cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em).
Trong mối quan hệ cha con, anh em ấy thì “phụ từ tử hiếu, huynh lương đệ đễ” (cha nhân từ, con có hiếu, anh rộng lượng, em kính trọng). Như vậy, Khổng Tử và các nhà Nho thời Tiên Tần đã đề ra nghĩa vụ, bổn phận đạo đức từ hai phía, có đi có lại. Tư tưởng ấy càng được Nho giáo suy tôn và củng cố bền vững bằng những thuyết giáo về mặt tình cảm, huyết thống và bằng sự nối liền hai chữ Hiếu - Trung.