mở đầu thời Xuân Thu (bắt đầu từ năm 770 đến năm 475 tr. Trung Quốc bước vào thời kỳ giao thời giữa hai chế độ xã hội – giai đoạn suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ và sơ kỳ chế độ phong kiến đang lên” [6. Nho giáo, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, về cơ bản là học thuyết chính trị - xã hội và đạo đức ra đời từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 tr.CN), thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ phong kiến sơ kỳ. Để nghiên cứu nội dung, tính chất và những giá trị hạn chế của một học thuyết chính trị - xã hội nào đó, nhất thiết phải dựa trên một cơ sở lí luận và phương pháp luận khoa học.
Theo triết học Mác – Lênin, con người và ý thức của con người tuy có thể tác động vào xã hội, vào tồn tại xã hội nhưng ý thức, tư tưởng của con người lại do cái xã hội, cái tồn tại xã hội ấy quy định. Như sách Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc đã dẫn lời của C.Mác: “Không phải ý thức con người quyết định tồn tại xã hội mà ngược lại, chính tồn tại xã hội đã quyết định ý thức con người” [69, tr. Cho nên, khi nghiên cứu tư tưởng của một thời đại nào đó của lịch sử, nếu chúng ta muốn có một kết luận chính xác, điều quan trọng bậc nhất là phải nắm bắt được tình hình kinh tế và tình hình chính trị của thời đại ấy; hiểu biết những nét căn bản phương thức sản xuất của thời đại ấy và những hình thức căn bản của sự phát triển những mâu thuẫn của thời đại, ở tính đối lập của những mâu thuẫn và tính thống nhất các mặt đối lập trong thời đại đó. Dựa trên cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng, điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định là nắm bắt được tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc – cơ sở hình thành quan niệm ấy của Nho giáo về xã hội lí tưởng.
Ở thời kỳ này, tình hình kinh tế, chính trị xã hội biểu hiện tập trung ở những điểm sau: Thứ nhất: Nền kinh tế có những chuyển biến mạnh mẽ, sức sản xuất có bước phát triển, do “Công cụ sản xuất, nhất là công cụ bằng đồ sắt đã bắt đầu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất hiện” với sự ra đời của nhiều công cụ lao động mới, “việc dùng bò kéo cày trở thành phổ biến” [6, tr. Với sự xuất hiện của công cụ lao động bằng sắt đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền sản xuất xã hội phát triển – cơ sở của những sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc. Mô tả sự xuất hiện của kim loại trong xã hội, sách Quốc ngữ có viết: “Đồng thau để đúc kiếm kích… sắt dùng để đúc cuốc cào và quả cân” [6, tr. Chính sự chuyển biến ấy “không chỉ thúc đẩy kỹ thuật luyện sắt phát triển mà còn tạo điều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, phát triển kỹ thuật canh tác, “dẫn thủy nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp” [6, tr.165] mà còn tạo điều kiện cho các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa đều phát triển, “đặc biệt là sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa trong các nước chư hầu Tề, Trịnh, …” [69, tr.
Cũng chính nhờ vào sự chuyển biến của công cụ lao động mà làm cho các nước chư hầu như Tề, Trịnh có sự phát triển vượt bậc hơn hẳn so với nhà Chu. “Trường hợp nhà họ Quý, một gia thần ở nước Lỗ được đánh giá là “giàu hơn Chu Công, ông tổ của nước Lỗ, đã phần nào minh chứng cho tình hình đó” [37, tr. Vì vậy mà qua đó, các nước chư hầu có thêm điều kiện và cơ hội đua nhau gây chiến để tranh giành quyền lực, tranh giành địa vị, đất đai với nhà Chu. Và khi các nước chư hầu nhỏ, nhờ vào sự cố gắng nỗ lực của bản thân mà trở nên phát triển hùng mạnh, thì không có lí do gì các nước đó lại cam chịu bị các nước khác ở trên thống trị, nô dịch.
Vì thế, việc các nước đó gây chiến tranh nhằm xác lập lại địa vị của mình, phân chia lại bờ cõi trong thiên hạ cũng là một sự tất yếu. Đây là một nguyên nhân quan trọng bậc nhất dẫn đến tình trạng xã tắc loạn lạc, tình trạng trong thiên hạ “vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con” diễn ra phổ biến – một bối cảnh xã hội quan trọng đưa đến sự nảy sinh, hình thành các học thuyết chính trị - xã hội, đặc biệt là học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong đó có quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, mặc dù đã có sự phát triển như vậy nhưng đời sống kinh tế, xã hội vẫn phụ thuộc và chịu sự 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác động của điều kiện tự nhiên (hạn hán, thiên tại, bão lụt,…v.), tình trạng mất mùa vẫn diễn ra hết sức phổ biến, tình cảnh dân ly tán, tha phương cầu thực khắp nơi. Vì vậy, một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn được đặt ra là, muốn đưa xã hội từ tình trạng loạn lạc trở thành một xã hội có trật tự thì, “Vua phải theo đúng đạo làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng đạo làm cha, con phải theo đúng đạo làm con”.
Nhưng để đạt được mục đích này thì một trong những yêu cầu chủ yếu là, “Thiên tử”, các vua chư hầu, các quan đại phu phải thi hành đúng “Đạo”, đúng “Lễ” của nhà Chu, phải xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị. Và theo nhà Nho, xã hội ấy là xã hội Đại đồng, xã hội hữu đạo – đó cũng chính là xã hội lý tưởng cần phải được thiết lập, duy trì. Bởi theo như Khổng Tử thì, “Thiên hạ yên trị thì việc lễ nhạc đều xuất phát từ thiên tử; thiên hạ vô đạo thì việc lễ nhạc và chinh phạt xuất phát từ các vua chư hầu. Xuất phát từ chư hầu thì ít khi giữ nổi quá mười đời; xuất phát từ các quan đại phu ít khi giữ nổi quá năm đời.
Các bồi thần nắm giữ quyền chính trong nước ít ai giữ nổi quá ba đời. Thiên hạ yên trị, việc chính trị không ở trong tay các quan đại phu. Thiên hạ yên trị thì người dân thường chẳng nghị luận việc nước” [22, tr. Thứ hai: Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất ra đời là cơ sở cho sự xuất hiện của các giai cấp và các tầng lớp mới trong xã hội, làm cho các mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ngày càng mở rộng và gay gắt.
Ở Trung Quốc, thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, trong cấu trúc các quan hệ thân tộc đã có những thay đổi căn bản theo xu hướng những liên hệ thân thuộc theo huyết thống giảm dần, những liên hệ kinh tế trên cơ sở sở hữu ruộng đất tăng lên. Những chính sách về ruộng đất do những đại diện của phái Pháp gia như Quản Trọng, Thương Ưởng đưa ra đã dần làm thay đổi các quan hệ về sở hữu ruộng đất. Theo đề nghị của Quản Trọng, vua Tề Hoàn Công đã áp dụng những mức thuế khác nhau đối với ruộng đất nhằm làm giảm hiện tượng nông dân bỏ ruộng đất canh tác, ly tán bốn phương. Đến Thương Ưởng, lối chia ruộng đất bình 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân theo chế độ tỉnh điền đã không còn.
Những biến đổi về kinh tế tất yếu dẫn đến những thay đổi về thiết chế xã hội và các quan hệ xã hội. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội trở nên phổ biến: Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với nông dân; Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ, bảo thủ muốn duy trì chế độ thống trị cũ với một bộ phận quý tộc mới muốn thực hiện cải cách để duy trì sự thống trị của mình; Mâu thuẫn giữa các phe phái trong nội bộ quý tộc với nhau muốn tiêu diệt lẫn nhau, tranh giành với nhau nhằm thiết lập quyền thống trị cho riêng mình. Trong phạm vi xã hội, đó là mâu thuẫn giữa Thiên tử với các nước chư hầu. Nếu như ở đầu thời Chu (Tây Chu), Thiên tử có quyền uy tối cao, mọi việc đều do “thiên tử xuất”, “Dưới trời đất đai nào chẳng là của vua, dân ở trên đất người nào mà chẳng là tôi tớ của vua” , thì đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc, thiên tử nhà Chu không còn giữ vai trò tối cao như trước, mà giờ đây, nền chính trị lại do các nước chư hầu làm bá chủ và chi phối.
Mâu thuẫn gay gắt trong giới quý tộc đã làm cho xã hội rối ren, trật tự xã hội bị đảo lộn, tình trạng cướp bóc, tranh giành nhau về địa vị, quyền lực, đất đai, ….v không được khắc phục, ngăn chặn. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã gọi đây là thời đại: quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử (nhà vua không theo đúng đạo làm vua, bề tôi không theo đúng đạo làm bề tôi, cha không theo đúng đạo làm cha, con không theo đúng đạo làm con). Mô tả về sự hỗn loạn đẳng cấp và danh phận, trong thiên Bát dật, sách Luận ngữ, Khổng tử than rằng, “Các nước kém mở mang còn có vua, không hề giống như các nước ở Trung hoa (cứ như thể) không vua” [22, tr. Sở dĩ có tình trạng mâu thuẫn như trên cũng xuất phát từ sự phát triển của sản xuất.
Bên cạnh sự phát triển của các nước chư hầu như Tề, Trịnh thì đối lập lại với nó là sự suy vi của nhà Tây Chu. Vì thế một mặt, dẫn đến tình trạng hình thành sự lớn mạnh và thôn tính lẫn nhau của các lãnh chúa địa phương; mặt khác, thiên tử, tên lãnh chúa cao nhất dần dần giảm mất địa vị và vai trò thống trị thiên hạ. Phản ánh sự suy vong của nhà Tây Chu, trong sách Kinh Thi có nói: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Đến lúc đạo vua đã suy vi, lễ nghi bị thay đổi, chính giáo bị sút kém.