Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận Do trọng tâm của đề tài nhằm vào lĩnh vực dịch vụ, cho nên cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu được lựa chọn sẽ tập trung vào các quan điểm lý luận và phương pháp luận nghiên cứu giữa nhu cầu của gia đình với các hoạt động xã hội. Dịch vụ như đã được xác định ở phần định nghĩa khái niệm, thuộc phạm trù quan hệ và hoạt động trao đổi (bao gồm cả phân phối). Trao đổi là một khâu quan trọng trong toàn bộ quá trình hoạt động kinh tế: sản xuất - trao đổi - tiêu dùng và hoạt động nói chung: sản xuất - giao tiếp - quản lý.
Lý thuyết về trao đổi có tính độc lập tương đối. Khi lựa chọn lý thuyết trao đổi nói chung, lý thuyết dịch vụ nói riêng thì vấn đề nan giải là phải đối diện với tình trạng có nhiều lý thuyết khác nhau, tạo thành các song đề lý thuyết. Trong đó, sự đối lập giữa chủ thuyết mác xít và phi mác xít, là trung tâm chú ý của cuộc đấu tranh tư tưởng. Nếu tiếp tục thế ứng xử như trước thời kỳ Đổi mới, chỉ biết có một quan điểm lý luận Mác - Lênin được coi là duy nhất đúng đắn, bất chấp sự hợp lý của các quan điểm lý thuyết khác thì như thế là cố chấp.
Thời kỳ Đổi mới hiện nay đang khắc phục tình trạng cố chấp này để đi tới một hệ quan điểm hiện đại, hợp lý hơn. Đổi mới tư duy nói chung, tư duy lý luận nói riêng có nghĩa là phải thấy rõ hạt nhân hợp lý của các quan điểm đối lập và tìm cách bổ sung hạt nhân hợp lý đó vào cơ sở lý luận và phương pháp luận đã lựa chọn để hoàn thiện. Do vậy, khi nghiên cứu dịch vụ gia đình trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, chúng tôi xác định cần cần phải có cách nhìn tổng quan, tiếp cận vấn đề dựa trên một số cơ sở lý luận sau đây. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn.
Tổng hợp các lý thuyết trong đổi và phát triển tư duy lý luận. Những người theo chủ nghĩa hình thức thì cho rằng thị trường là lực lượng chính quyết định cả mức độ sản xuất và tiêu dùng trong xã hội. Ở trình độ phát triển, đó là thị trường tư bản chủ nghĩa, còn kém phát triển thì đó là sự hợp lý trong trao đổi, phân phối mà cơ sở của tính hợp lý này là ở lợi ích cá nhân. Nhưng xu thế tất yếu đều tính toán hợp lý và hướng tới chuẩn phương Tây, hợp lý từ bản chủ nghĩa.
Lý thuyết lựa chọn hợp lý (của J. Coleman chẳng hạn) đề ra nguyên tắc “chi phí - lợi ích” để làm rõ sự tính toán hợp lý trong trao đổi, phân phối. Lý tưởng là lợi ích tối đa. Trong thực tế, để tăng lợi ích người ta có thể giữ nguyên chi phí, cố gắng tăng hiệu quả, có thể giảm chi phí để tăng hiệu quả, cũng có thể tăng chi phí nhưng phải tăng hiệu quả gấp bội lần thì mới đạt lợi ích lớn hơn.
Những người theo chủ nghĩa bản thể 2 thì cho rằng thị trường và đặc biệt là thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là loại hình trao đổi duy nhất. Trong thực tế, nhất là ở các xã hội ngoài phương Tây có nhiều loại hình trao đổi tiền thị trường tiền tư bản chủ nghĩa. Theo tổng kết của K. Polangi thì có 3 loại hình cơ bản đó là: (1) Tương hỗ, (2) Phân phối lại và (3) Thị trường.
Tương hỗ: là phương thức trao đổi cổ xưa và đơn giản nhất. Trong đó có tương hỗ gián tiếp (trong đó 2 bên liên quan không chờ đợi một sự đáp ứng ngay), tương hỗ cân xứng (trong đó những người tham gia chờ đợi sự đáp ứng có cùng giá trị được xác định rõ ràng), tương hỗ tiêu cực (theo đó ít nhất một bên tìm cách lấy không một thứ gì đó mà không bị trừng phạt). Phân phối lại: đòi hỏi phải có hình thức tổ chức xã hội tập trung thực hiện quá trình thu gom đóng góp của các thành viên trong tổ chức và từ ngoài tổ chức để rồi phân phối lại cho các thành viên. Loại hình này có thể thực hiện trong phạm vi gia đình, và đến các phạm vi xã hội rộng lớn hơn 2 Xem, ch¼ng h¹n, E.
Nh©n häc - mét quan ®iÓm vÒ t×nh tr¹ng nh©n sinh. Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ néi, 2001. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. Phạm Văn Quyết như làng, thành phố, nhà nước…Như đã biết, loại hình chủ yếu của xã hội Việt Nam thời bao cấp trước đổi mới là nhà nước nắm giữ độc quyền phân phối lại hầu như tất cả các loại sản phẩm xã hội.
Trao đổi qua thị trường: thực chất là quá trình mua - bán hàng hoá (thương mại), tiền tệ (tín dụng), mua - bán dịch vụ theo cơ chế cung - cầu hàng hoá và dịch vụ. Thị trường tư bản chủ nghĩa là thị trường phát triển. Như vậy, không nên tuyệt đối hoá các lý thuyết về trao đổi và phân phối theo nguyên tắc loại trừ nhau, mà nên dung hoà. Tuy nhiên để tránh tình trạng vô nguyên tắc, chiết trung trong lý luận thì có thể lựa chọn nguyên tắc chọn một trong hai làm cột trụ, bổ sung thêm yếu tố hợp lý của mặt đối lập.
Đó là tiếp cận toàn thể biện chứng có phân biệt cái quan trọng và cái không quan trọng. Trên cơ sở cách tiếp cận tổng hợp biện chứng này chúng ta có thể tóm tắt lịch sử dịch vụ kinh tế và xã hội Việt Nam cho đến thời kỳ đổi mới ngày nay thành 2 thời kỳ (2 khuôn mẫu) quan trọng, đó là: 1. Khuôn mẫu truyền thống: có đặc điểm chủ yếu là coi trọng dịch vụ phi thị trường; 2. Khuôn mẫu đổi mới: có đặc trưng chủ yếu là coi trọng dịch vụ thị trường.
Trong khuôn mẫu truyền thống có sự khác biệt giữa Nhà nước và xã hội dân sự khi đối diện và giải quyết song đề (nan đề) thị trường - phi thị trường. Nhà nước thực hành chủ trương trọng nông - ức thương, nghĩa là coi trọng cống nạp hiện vật trực tiếp, không mua - bán. Trong khi đó xã hội dân sự bị phân hoá thành xã hội nông dân trao đổi hiện vật, phi thị trường và xã hội phi nông nghiệp, hoạt động công - thương, theo cơ chế thị trường. Hộ gia đình nông dân, thậm chí người nông dân cũng bị phân đôi, khi mà họ làm thêm nghề phụ (tiểu thủ công nghiệp) hoặc buôn bán, dịch vụ nông nhàn.
Nghĩa là, nông nghiệp vẫn phi thị trường, nhưng phi nông nghiệp thì tham gia thị trường. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. Phạm Văn Quyết Khuôn mẫu bao cấp do Nhà nước ta thực hiện trong mấy chục năm trước thời kỳ đổi mới có đặc điểm giống khuôn mẫu truyền thống ở chỗ coi trọng dịch vụ phi thị trường; nhưng có đặc điểm khác hẳn ở chỗ nhà nước ngăn cấm thị trường tự do, thủ tiêu thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ theo phép có một loại hình trao đổi, phân phối duy nhất đó là bao cấp XHCN do Nhà nước độc quyền quản lý. Tuy nhiên, bất chấp Nhà nước cứng rắn trong chủ trương và thực hành cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thị trường tự do vẫn len lỏi hoạt động dưới hình thức kinh tế ngầm (bất hợp pháp) và có nơi, có lúc thị trường tự do dưới hình thức kinh tế ngầm này đã lũng đoạn nền kinh tế quốc dân.
Khuôn mẫu dịch vụ bao cấp là sự lựa chọn không thành công và có thể coi là sự lệch lạc trong tiến trình đến hiện đại từ truyền thống trọng nông, ức thương của lịch sử dịch vụ kinh tế và xã hội Việt Nam. Vấn đề phi thị trường và thị trường trong lý luận và phương pháp nghiên cứu dịch vu kinh tế - xã hội không thể giải quyết hạn chế trong phạm vi dịch vụ (tức là lĩnh vực trao đổi, phân phối). Cần phải đặt trong một hệ thống biện chứng rộng lớn hơn, một mặt đó là dịch vụ trong tương quan với sản xuất và mặt khác, dịch vụ trong tương quan với tiêu dùng. Tiêu dùng và phương thức tiêu dùng cũng tác động tới dịch vụ nói chung, dịch vụ gia đình nói riêng có ít nhất 3 cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về bản chất tiêu dùng: (1) Mô hình tiêu dùng là do nhu cầu cơ bản của con người và xã hội loài người quy định.
Đó là dinh dưỡng, sinh sản, tiện nghi vật chất, an toàn di chuyển, phát triển và sức khoẻ; (2) Sự khác biệt giữa các mô hình tiêu dùng không phải do nhu cầu con người mà là do điều kiện sinh thái quyết định; (3) Khuôn mẫu, bản sắc văn hoá định hình tập quán tiêu dùng. Các cách tiếp cận thiên vị, hoặc là đề cao vai trò của sản xuất (quyết định trao đổi và tiêu dùng), hoặc là đề cao vai trò của trao đổi (quyết định trao đổi và tiêu dùng), hoặc là đề cao vai trò của tiêu dùng (quyết định sản 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ Xã hội học Giáo viên hướng dẫn. Phạm Văn Quyết xuất và trao đổi) đều có hạt nhân hợp lý; song nếu tuyệt đối hoá, sẽ sai lầm. Bởi lẽ trong toàn thể biện chứng, mỗi nhân tố sản xuất, trao đổi, tiêu dùng đều có tính độc lập tương đối, nhưng mặt khác, lại bị phụ thuộc vào các nhân tố còn lại.
Dịch vụ thuộc lĩnh vực trao đổi, tuy có tính độc lập tương đối, có tác động tới sản xuất và tiêu dùng; nhưng mặt khác cũng bị sản xuất và tiêu dùng tác đông trở lại. Từ điển Xã hội học 3 cho biết 3 ý nghĩa chính của cụm từ “Nhu cầu". Thứ nhất: Đó là những đòi hỏi cơ bản cần thiết cho việc duy trì sự sống con người. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Maslow (1954) cho rằng có nhiều thang bậc nhu cầu khác nhau, kể từ nhu cầu sinh lý như ăn uống, an toàn, chỗ ở cho đến nhu cầu tâm lý như sở hữu, tán thành, tình yêu và cao nhất là nhu cầu tự thực hiện.
Chỉ có nhu cầu sinh lý mới thực sự là nhu cầu sinh tồn và theo Maslow thì cần phải thoả mãn các nhu cầu sinh lý trước khi muốn thoả mãn nhu cầu cao cấp hơn.