Chương I: Phạm Phú Thứ - con người và thời đại (22 trang) Chương II: Những vấn đề văn bản học của Giá Viên toàn tập (43 trang) Chương III: Giá trị học thuật của Giá Viên toàn tập (43 trang) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 NỘI DUNG CHƢƠNG I PHẠM PHÚ THỨ - CON NGƢỜI VÀ THỜI ĐẠI “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Mark). Để tìm hiểu, nghiên cứu về một nhân vật thì tất yếu chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu về thời đại cũng như các mối quan hệ xã hội và gia đình của nhân vật đó. Bởi những yếu tố này có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của một nhân vật. Do vậy, để giúp cho việc nghiên cứu văn bản và giá trị học thuật của Giá Viên toàn tập, cần phải biết về Phạm Phú Thứ - con người và thời đại của tác giả Giá Viên toàn tập.
Thời đại Phạm Phú Thứ Trong phần này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu lịch sử triều Nguyễn theo quãng đời của Phạm Phú Thứ, tức từ năm 1821 đến năm 1882. Triều Nguyễn được lập nên sau một cuộc nội chiến kéo dài. Khác với các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, về cơ bản và chủ yếu là quyền lợi của triều đại đó gắn liền với quyền lợi của nhân dân, thì vương triều Nguyễn lại được dựng lên bằng một cuộc nội chiến mà kẻ thắng đã dựa vào thế lực ngoại bang. Chính vì thế mà bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời nhà Nguyễn trở nên đa dạng, phức tạp, đôi khi như tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, lạc hậu; giữa cái mạnh và cái yếu… Song “nhà Nguyễn cũng mở ra một bước ngoặt lịch sử: một tổ chức chính quyền qui mô hơn thay thế cho những chính quyền cũ đã quá nát ruỗng; một sự ổn định mới thay thế cho tình cảnh bấp bênh loạn lạc… mà ai cũng đã chán ghét đến cực điểm; và một nền văn hóa chính thống thay thế cho sự vô trật tự, đưa lại cho xã hội một kỉ cương, nề nếp, một sự phục hồi bản sắc… đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quả là mong mỏi chung của nhiều tầng lớp nhân dân, là khát vọng của cả một giai đoạn, là điều kiện hình thành và củng cố vị trí của triều đại Nguyễn trong lịch sử trung đại Việt Nam”7.
Về chính trị Vua nắm mọi quyền hành một cách độc đoán. Tổ chức nhà nước quân chủ chuyên chế tập trung cao độ. Dưới vua, chính quyền trung ương gồm Nội các8, Viện cơ mật9, Tôn nhân phủ10, Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công). Bộ Lại chuyên trách việc bổ dụng, cất nhắc, thăng giáng và thuyên chuyển quan lại.
Bộ Hộ chuyên trách việc tài chính, lương tiền. Bộ Lễ chuyên trách việc lễ nghi, giáo dục, ngoại giao. Bộ Binh chuyên trách việc tổ chức quân đội, quân sự, bảo vệ biên giới, dân tộc thiểu số. Bộ Công chuyên trách việc giao thông, xây dựng, thổ mộc nói chung.
Bộ Hình chuyên trách việc soạn thảo pháp luật, xử những vụ trọng án. Đứng đầu mỗi bộ là Thượng thư, dưới là Tả/Hữu thị lang. Nhà Nguyễn đặt thêm chức trung gian Tả/Hữu tham tri ở dưới Thượng thư và trên Thị lang. Toàn bộ quốc gia chia thành các đơn vị hành chính từ lớn đến nhỏ: tỉnh 11, phủ, huyện, châu, tổng, xã.
Tổng cộng 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên. Mỗi tỉnh lớn có Tổng đốc đứng đầu (tỉnh nhỏ có Tuần phủ), giúp việc quan đầu tỉnh có Bố chính, Án sát, Lãnh binh. Các hàng quan đầu tỉnh đều do nhà nước bổ nhiệm, thông qua thi cử. Ở vùng thượng du, triều đình không có khả năng cai trị thì thông qua các tù trưởng để nắm quyền.
Dưới các thôn xã, quyền bính nằm trong tay bộ phận phú hào. Vận mệnh của dân làng phụ thuộc vào các tổng lí, kì dịch. Từ thời Minh Mạng, nhà Nguyễn đã đặt ra lệ tứ bất: không lập tể tướng, không lập hoàng hậu, không lấy trạng nguyên, 7 Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, tr198 8 Thời vua Gia Long gọi là Thị hhư viện, vua Minh Mệnh đổi lại là Văn thư phòng (1820), rồi đổi thành Nội các (1828). 9 Lập năm 1834, gồm các đại thần mẫn cán, đáng tin cậy chọn từ Tam phẩm trở lên.
Những việc quan trọng của đất nước đều được quyết định bởi Viện Cơ mật. Phủ Tôn nhân trông coi các việc của hoàng tộc. 11 Năm 1831-1832, Minh Mạng đổi các dinh trấn thành tỉnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc.
Điều này thể hiện tính chất chuyên chế cao độ, tập trung quyền hành nhà nước tuyệt đối vào một người, đó là vua. Mặt trái của nó tất yếu dẫn đến lộng quyền, độc đoán trong cai trị và quản lí nhà nước. Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều do vua nắm, quyết định tối cao trên mọi phương diện. Về kinh tế Ở thời Nguyễn, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước.
Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và là nền tảng kinh tế chủ yếu của xã hội. Song tình hình ruộng đất thời kì này phải đối mặt với hàng loạt khó khăn: ruộng đất bỏ hoang, nông dân phiêu tán, nội chiến ngoại xâm làm cho nền nông nghiệp càng thêm xơ xác, lạc hậu… Vấn đề đặt ra cho triều Nguyễn lúc này là khôi phục lại sản xuất, đưa nông dân về với ruộng đồng, ổn định làng xã, ổn định an ninh lương thực. Đây là nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc trị quốc, an dân. Các vua nhà Nguyễn thực hiện chính sách quân điền, mở nhiều đồn điền, khai hoang lập làng, đồng thời tiến hành hàng loạt chính sách trọng nông.
Vua Minh Mạng cử Nguyễn Công Trứ làm doanh điền sứ, chiêu mộ dân phiêu tán đi khẩn hoang, lập làng mang lại kết quả ở Ninh Bình, Thái Bình. Các tổng huyện mới được thành lập, diện tích canh tác được mở rộng12. Vua Tự Đức đứng trước tình hình đất nước “vào quãng đời giữa, lòng người dễ phần buông lỏng, chính trị và giáo dục không được sửa sang, giềng mối không chấn hưng được…”13 nên ra sức khuyến khích nhân dân khôi phục và phát triển nông nghiệp. Vua bảo các đình thần rằng: “thóc là của báu trong nước, nguồn sống của dân, vì thế cho nên đời xưa mới trọng 12 Đồng thời với việc khai khẩn ruộng hoang nhằm mục đích kinh tế, khai hoang còn là chính sách giúp ích cho việc gìn giữ biên cương: “Khai khẩn ruộng hoang là chính sách cốt yếu làm cho biên cương được đầy đủ, nên gia tâm chiêu dân nhận để khai khẩn, hoặc sức cho dân biền binh đóng giữ, lúc có việc thì nghiêm cẩn phòng bị hơn nữa, lúc không việc thì ra sức cày cấy, sao cho ruộng nương ngày một mở mang, thóc lúa năm một thêm lên, cũng là giúp cho địa phương biên cương được vững bền đó” (Tổ phiên dịch Viện Sử học (1971), Đại Nam thực lục, tập 25, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.
193) 13 Tổ phiên dịch Viện Sử học (1973), Đại Nam thực lục, tập 27, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 105 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 việc làm ruộng. Nay nên dụ cho khắp các địa phương đều sức cho phủ, huyện, châu, trong hạt phải hết lòng khuyến dạy về việc nông. Về xã thôn nào lưu tán, ruộng đất bỏ hoang, thì phải gọi dân về cày cấy.
Riêng đất, chỗ nào có thể cày cấy được mà bỏ hoang, thì sức cho nhân dân đến khai khẩn, cứ đến cuối năm kê khai làm sổ tư đi, do bộ chia từng hạng làm bản tâu lên, đợi chỉ định thưởng phạt, để tỏ sự khuyên răn.”14 Mặc dù thi hành chính sách “trọng nông”, nhưng do sự bất lực của nhà nước phong kiến, chính sách này không những không bảo vệ và phát triển nông nghiệp mà còn làm cho nông dân lâm vào cảnh ai oán, điêu tàn. Khẩn hoang và lập ấp làm tăng diện tích cày cấy, nhưng kết quả khẩn hoang phần lớn rơi vào tay địa chủ cường hào. Quá trình chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vào tay địa chủ, bần cùng hóa nông dân diễn ra mạnh mẽ15. Tô thuế là nguồn thu chính của nhà nước cũng bị bọn quan lại ăn cắp, tính gian, hà thu lạm bổ, gây ra nhiều tổn hại cho nhân dân.
Các chính sách bảo vệ nông nghiệp không được quan tâm, nhà nước chỉ chú trọng cầu trời cho ít thiên tai, cầu mưa thuận gió hòa… và khi thiên tai xảy ra, việc cứu trợ cũng không kịp thời và ít ỏi. Đồng thời triều Nguyễn bảo tồn công xã nông thôn (còn gọi là làng xã), điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến được xây dựng trên cơ cấu kinh tế ấy chưa thay đổi. Chế độ công điền, công thổ duy trì lâu dài nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, làm cho làng xã trở thành đơn vị khép kín, cản trở quá trình tư hữu hóa ruộng đất, hạn chế sự phát triển của quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Thuế nông nghiệp của triều Nguyễn cũng hết sức nặng nề và được đánh giá là cao nhất trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam.
Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp triều Nguyễn thời Phạm Phú Thứ chưa đáp ứng được nhu cầu của quốc gia. 14 Tổ phiên dịch Viện Sử học (1973), Đại Nam thực lục, tập 28, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 129 15 “Vào năm 1852, trong 31 tỉnh của toàn quốc thì chỉ có hai tỉnh là Thừa Thiên và Quảng Trị có số ruộng công nhiều hơn ruộng tư. Một tỉnh là Quảng Bình có ruộng công và ruộng tư bằng nhau, còn lại 28 tỉnh khác ruộng tư nhiều hơn ruộng công, trong đó phần ruộng tốt thì cường hào chiếm cả, thừa ra thì hương lí bao chiếm.
Dân chỉ được phần ruộng đất xấu, cằn cỗi, bạc màu.” (Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ 1858-1918, Nxb ĐHSP, Hà Nội, tr 15-16) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Công thương nghiệp cũng không phát triển được. Nền kinh tế hàng hóa bị thu hẹp. Các vua Nguyễn ra sức thi hành các chính sách kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp. Công nghiệp và thủ công nghiệp còn mang tính chất manh mún và chủ yếu là phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của triều đình: đóng thuyền, đúc tiền, đúc súng… mà không vì sự phát triển của nền kinh tế.
Thủ công nghiệp dân gian phát triển chậm chạp, thủ công nghiệp nhà nước được mở rộng. Khai mỏ vàng, sắt, bạc, đồng… phát triển và hoạt động mạnh mẽ. Song, chính sách khai mỏ của nhà nước không làm lợi cho nhân dân.