CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ PHÁT TRIỀN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH 1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi ở các nước phát triển từ những năm 80 của thế kỷ thứ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm NNL không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn.[4] Quan điểm về NNL hiện nay trên thế giới tồn tại rất nhiều, mỗi tổ chức cá nhân nghiên cứu đưa ra những quan điểm khác nhau.
Tuy nhiên nội dung cũng chủ yếu tập trung vào kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và kỹ năng nghề nghiệp của con người …. Theo Liên Hợp Quốc thì NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.[16] Tổ chức lao động quốc tế thì có quan điểm như sau:NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là toàn bộ dân cư sinh sống trên một vùng lãnh thổ nhất định, cung cấp toàn bộ sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, NNL là tổng hòa các yếu tố về thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp … của toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao độngbằng tất cả các khả năng vốn có của mình. Ở nước ta khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất).Như vậy, NNL không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Nguyễn Tiệp (2005), NNL bao gồm toàn bộ dân cư cókhả năng lao động. Khái niệm này chỉ NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổiLĐ có khả năng LĐ. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.TS Trần Xuân Cầu (2008), NNL là một phạm trù dùng đểchỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội[1] Từ các quan điểm về NNL như trên có thể hiểu NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi quốc gia. Do đó, khi nghiên cứu về NNL chúng ta cần nghiên cứu trên cả ba phương diện về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực. - Về số lượng được nghiên cứu dựa trên các chỉ tiêu về nhu cầu sử dụng lao động trong quá trình phát triển của các tổ chức, quy mô và tốc độ tăng trưởng NNL cũng như các dự báo về nhân lực trong tương lai của các tổ chức. Sự phát triển về số lượng nhân lực dựa trên nhóm yếu tố bên trong của tổ chức, đó là nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân và các biến cố của kinh tế xã hội.
- Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về cơ cấu lứa tuổi của dân số, trạng thái thể lực, trí lực, trình độ văn hóa, chuyên môn, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phong cách, đạo đức, hiểu biết xã hội,. của đội ngũ nguồn nhân lực, trong đó trình độ học vấn là rất quan trọng bởi vì đó là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi con người. [5] - Cơ cấu NNL là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, lĩnh vực ngành nghề, dân tộc, giới tính, độ tuổi … 1.
Phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển NNL. Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc, phát triển NNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Có quan điểm cho rằng: Phát triển NNL là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển NNL của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL.
Nói một cách khái quát nhất, phát triển NNL chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch 1. Nguồn nhân lực ngành du lịch Trong hoạt động du lịch, từ phía “cung du lịch” có nhiều thành phần tham gia vào hoạt động phục vụ khách du lịch là: + Tại các đầu mối giao thông: cụ thể là đối với các phương tiện giao thông phổ biến được sử dụng phục vụ cho nhu cầu của du khách như: đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển …, đi kèm với các phương tiện giao thông là hệ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như: sân bay, nhà ga, mạng lưới đường xá, cảng, các kho nhiên liệu, các phương tiện máy móc và sửa chữa,… cũng đòi hỏi một lượng lao động lớn nhằm đảm bảo các loại hình giao thông luôn trong tình trạng sẵn sàn đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch. + Tại điểm đến du lịch: a) Hoạt động của các doanh nghiệp phục vụ du lịch tuyến trước hay các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách bao gồm: Dịch vụ lưu trú - khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống - nhà hàng, quán Bar; dịch vụ vui chơi giải trí … b) Hoạt động của các doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ du lịch tuyến sau bao gồm các DN cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các đơn vị phục vụ du lịch tuyến trước như: công ty xây dựng, kiến trúc, công ty quảng cáo, công ty bia rượu, nước giải khát … c) Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan đến hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lý các dịch vụ phục vụ du lịch như: cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, cơ quan quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan quản lý văn hóa… d) Hoạt động của cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch, như: các gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người tham gia quá trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.[8] Như vậy, xét một cách tổng quát, NNLDL bao gồm toàn bộ lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch.
Do đó, khi đề cập đến khái niệm NNL DL thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch. Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách du lịch), lao động du lịch được chia thành hai nhóm: lao độngtrực tiếp và lao độnggián tiếp. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển du lịch Lực lượng lao độngtrong NDL được chia thành 3 nhóm với những vai trò khác nhau: [6] a) Nhóm lao độngchức năng quản lý nhà nước về du lịch, nhóm này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch.
b) Nhóm LĐ chức năng sự nghiệp NDL. Đây là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về NDL, có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển NNL DL, tác động lớn đến chất lượng và số lượng của NNL DL hiện tại và trong tương lai. c) Nhóm lao độngchức năng kinh doanh. Nhóm lao độngnày chiếm số lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành Du lịch và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất.
Đây là những lao độngtrực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho du khách. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch - Trình độ phát triển kinh tế và phát triển du lịch: Trình độ phát triển kinh tế tạo nên nền tảng vật chất để giải quyết các vấn đề về NNL.