phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi Chƣơng 2: Khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hƣơng Chƣơng 3: So sánh sự giống và khác nhau trong sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hƣơng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 1. Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi 1. Cuộc đời Nguyễn Trãi (1380 - 1442) hiệu Ức Trai, vốn ngƣời Chi Ngại (làng Ngái), huyện Phƣợng Nhỡn (nay là huyện Chí Linh), Hải Dƣơng, sau rời làng Ngọc Ổi, huyện Thƣợng Phúc, Hà Đông (sau đổi thành làng Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thƣờng Tín, Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Nhị Khê là một làng quê nằm bên tả ngạn sông Tô Lịch phía Hà Nội chảy về, thuần nông và có nhiều nghề thủ công đặc sắc.
Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình dòng tộc, nhiều đời là võ quan cao cấp dƣới các triều đại. Dòng họ ông có truyền thống cƣơng trực, khảng khái, khí tiết, lập trƣờng thân dân, từng đứng về phía những ngƣời thế cô, bị hà hiếp để đấu tranh dũng cảm chống lại cƣờng quyền và bạo lực, vì thế dòng họ ấy nhiều lần bị tai họa nặng nề với nhiều mức độ khác nhau dƣới các triều đại phong kiến. Nguyễn Trãi chịu ảnh hƣởng lớn bởi tƣ tƣởng, văn hóa và học thuật cùng nhân cách của ông ngoại, của cha, nhất là tƣ tƣởng thân dân, chăm lo cho dân. Ông ngoại là Chƣơng Túc Quốc Thƣợng hầu Tƣ đồ Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), hoàng tộc nhà Trần, là cháu bốn đời của Chiêu Minh đại vƣơng Trần Quang Khải – con trai thứ của Trần Thái Tông, ngƣời sáng lập nhà Trần.
Quan Tƣ đồ là ngƣời có học vấn uyên thâm, nổi tiếng thơ văn, giỏi lịch pháp, thiên văn, độn số và là ngƣời có công giúp Cung Định vƣơng Tả Tƣớng quốc Trần Phủ (tức Trần Nghệ Tông 1370 – 1372, nhƣờng ngôi cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com em, và làm Thƣợng hoàng 1372 – 1394), tiêu diệt Dƣơng Nhật Lễ để khôi phục nhà Trần, đƣợc phong tƣớc hầu, giữ chức Tƣ đồ quyền ngang Tể tƣớng. Thân phụ là Nguyễn Ứng Long (1355 – 1428), sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, vào năm 1400 ra làm quan dƣới triều Hồ Quý Ly. Ông là con rể của Trần Nguyên Đán, từng đỗ Hoàng giáp trong kỳ thi Đình năm Giáp Dần (1374), niên hiệu Long Khánh thứ 2 triều Trần Duệ Tông (1373 – 1377), nhƣng triều đình không trọng dụng bổ chức quan. Mãi đến khi họ Hồ soán ngôi nhà Trần, thì Nguyễn Ứng Long mới đƣợc Hồ Quý Ly ban chỉ dụ mời ra làm quan với chức Hàn lâm Học sĩ, kiêm Tƣ nghiệp Quốc tử giám.
Mẹ Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con thứ ba của Trần Nguyên Đán. Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi Đình, đỗ Thái học sinh khoa thi đầu tiên dƣới triều nhà Hồ, năm sau đƣợc cử giữ chức Ngự sử đài Chánh chƣởng. Năm 1407, giặc Minh xâm lƣợc, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt, nhiều quan lại nhà Hồ bị giết hoặc bị bắt đƣa về giam ở Trung Quốc. Riêng Nguyễn Trãi trốn thoát và bắt đầu mƣời năm tìm đƣờng cứu nƣớc.
Lúc này có hai cuộc khởi nghĩa chống Minh của nhà Hậu Trần do Trùng Quang đế và Giản Định đế lãnh đạo, nhƣng Nguyễn Trãi không theo, mãi đến năm 1418, ông mới vào Lam Sơn phò giúp Lê Lợi. Buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, do lực yếu thế cô, có lúc đội quân khởi nghĩa bị giặc Minh đánh tan tác, mỗi ngƣời một nơi. Năm 1412, ông trở lại Lam Sơn lần thứ hai, yết kiến Bình Định vƣơng tại Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách, đƣợc Lê Lợi tin dùng, đối đãi vào hàng quân sƣ, cùng bàn bạc việc quân cơ. Kháng chiến thành công, khi triều đình định công ban thƣởng, dù công lao vào bậc nhất, nhƣng ông chỉ đƣợc ban quốc tính (họ Lê), phong tƣớc Quan phục hầu, chức Thƣợng thƣ Bộ Lại, kiêm Nhập nội Hành khiển và trông coi Môn hạ sảnh, tức những chức quan đối nội, lo việc triều đình, ở bậc hai, bậc ba trong hàng ngũ quan chức đời Lê.
Nhƣng sau đó không lâu do bị Lê Thái Tổ nghi oan trong việc Đèo Cát Hãn nổi loạn đòi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phiên trấn cát cứ, ông bị tù, còn những vị khai quốc công thần nhƣ Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn thì bị bức tử. Khi đƣợc tha thì ông bị mất gần hết chức tƣớc, quốc tính. Gần cuối đời, có thể nói, Nguyễn Trãi gặp nhiều bi kịch, vì thế, ông xin về Côn Sơn làm bạn với trăng thanh gió mát, vui thú với tùng mai, thỉnh thoảng mới về Thăng Long khi triều đình có việc cần. Đến năm 1440, lúc này Lê Thái Tông đã trƣởng thành, đã dẹp yên bè đảng Lê Sát, nhà vua triệu ông ra làm quan trở lại, dù lần này chức tƣớc không cao, nhƣng Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra, chỉ vì dân vì nƣớc và viết bài Tạ ân biểu nổi tiếng.
Cũng vì sự trở lại lần này mà sau đó ông cùng gia tộc bị cái án oan nghiệt Lệ Chi viên vào tháng 9 năm 1442. Ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dƣơng. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của ông. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch), vua đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).
Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một ngƣời thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã 40 tuổi, đƣợc vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chƣơng, luôn đƣợc vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới có 20 tuổi. Các quan bí mật đƣa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sƣ, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua.
Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này. Đến tháng 7 năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tƣớc Tán Trù bá và bổ dụng ngƣời con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ. Con ngƣời và sự nghiệp Tìm hiểu cội nguồn của sự hình thành thiên tài Nguyễn Trãi có lẽ không ngoài những nhân tố sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ảnh hƣởng từ dòng họ với truyền thống cƣơng trực, khảng khái, khí tiết cứng cỏi, đấu tranh chống lại cƣờng quyền, bạo lực, chống cái xấu cái ác làm hại nƣớc hại dân. - Ảnh hƣởng sâu đậm tƣ tƣởng, văn hoá và học thuật cùng nhân cách của ông ngoại, của cha, nhất là tƣ tƣởng thân dân, chăm lo cho dân.
- Từng sống đời sống thanh bần, trong sạch giản dị ở Côn Sơn, ở Nhị Khê từ thuở thiếu thời, cũng nhƣ lúc cáo quan về Côn Sơn, sống gần gũi với nhân dân; đặc biệt là mƣời năm phiêu bạt tìm đƣờng cứu nƣớc nên ông thấu hiểu dân tình, đồng cảm những cảnh ngộ của nhân dân. - Tiếp thu nhiều nguồn văn hoá tƣ tƣởng: trong kinh sách Tam giáo, nhất là Nho giáo; từ truyền thống văn hoá tƣ tƣởng nhân dân; từ tinh hoa văn hoá thời đại Lý - Trần; từ hiện thực thời đại lịch sử; từ thực tế trải nghiệm cuộc sống của bản thân rồi dung hòa, nâng cao thành hệ tƣ tƣởng của thời đại phục hƣng dân tộc sau chiến thắng giặc Minh. Tƣ tƣởng của Nguyễn Trãi cũng chính là tƣ tƣởng tiêu biểu cho tƣ tƣởng Đại Việt ở nửa đầu thế kỷ XV. Vì thế, tuy khái niệm nhân nghĩa là của Nho gia nhƣng quan niệm của ông có khác chút ít so với Khổng Mạnh, và hoàn toàn khác xa với Tống Nho, tƣ tƣởng đó mang tinh thần thân dân, vì dân.
Theo ông, yêu nƣớc chính là yêu dân, thể hiện khát vọng xây dựng đất nƣớc hoà bình, phát triển, nhân dân đƣợc ấm no, hạnh phúc, muốn “yên dân”, thì phải “trừ bạo”. Nguyễn Trãi hội tụ những phẩm chất của một nhà thơ, nhà chính luận, nhà quân sự, nhà địa lí, nhà sử học, nhà ngoại giao. Ông có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại nhƣ: Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí, Chí Linh sơn phú, Ức Trai di tập, đặc biệt là tập thơ Nôm Quốc âm thi tập. Năm 1980 UNESCO đã công nhận Nguyễn Trãi là Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tác phẩm Quốc âm thi tập Xét từ phƣơng diện sáng tác thơ văn, Nguyễn Trãi là một tác gia xuất sắc trên nhiều loại hình văn học. Khi ra đi, ông đã để lại cho dân tộc ta một khối lƣợng lớn các tác phẩm có giá trị văn chƣơng cao mà trong đó có thể kể đến Quốc âm thi tập - một tuyển tập gồm 254 bài thơ làm bằng chữ Nôm đƣợc chia làm bốn môn loại là Vô đề, Môn thời lệnh, Môn hoa mộc và Môn cầm thú. Vô đề: gồm 14 tiểu mục, 192 bài thơ.
Môn thì lệnh: gồm 9 tiểu mục, 21 bài thơ. Môn hoa mộc: gồm 23 tiểu mục, 34 bài thơ. Môn cầm thú: gồm 7 tiểu mục, 7 bài thơ. Không chỉ đƣợc đánh giá là tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc có chỗ đứng quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, Quốc âm thi tập còn đƣợc coi là tác phẩm đã có công đầu trong công cuộc khẳng định sự tồn tại của dòng văn học tiếng Việt cũng nhƣ vai trò và khả năng thẩm mĩ, phản ánh xã hội và tâm trạng của con ngƣời.
Vì là một tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc, ra đời trong những bƣớc đi đầu tiên của nền văn học viết cho nên có thể chắc chắn rằng trong Quốc âm thi tập không thể thiếu các chất liệu của văn học dân gian nhƣ thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Điều này cũng đƣợc giải thích rất xác đáng rằng, bất cứ nền văn học thành văn của bất cứ quốc gia nào cũng lấy văn học dân gian làm nền tảng, đặc biệt là đối với một đất nƣớc bị ngoại bang xâm chiếm kéo dài gần 1000 năm nhƣ Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.