MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khuyết tật là một trong những vấn đề đang nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc (UN) khảo sát năm 2007, trên thế giới có khoảng 10% người khuyết tật tương đương với 650 triệu người. Cứ 10 trẻ em thì có 1 trẻ phải đối mặt với khuyết tật.
Cũng theo tổ chức này, 90% trẻ khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đến trường [41]. Trong bản “Báo cáo tình hình trẻ em thế giới 2013: Trẻ em khuyết tật” của UNICEF, cho đến nay trên toàn thế giới có khoảng 93 triệu trẻ em (dưới 14 tuổi) bị khuyết tật ở mức độ vừa hoặc nặng [36]. Tuy nhiên, trong thực tế con số này chưa phải là con số chính xác số lượng trẻ khuyết tật trên thế giới, mà con số chính xác sẽ phải cao hơn nhiều. trong nước, theo con số thống kê năm 2010, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, trong đó 3,6 triệu là phụ nữ và hơn 5 triệu người sống ở nông thôn.
Việt Nam có khoảng 1,2 triệu TKT, trong đó tỉ lệ TKT trí tuệ: 27%; TKT vận động 20%; TKT ngôn ngữ: 19%; Khiếm thính: 12,43%; Khiếm thị: 12%; các loại KT khác: 7%; trẻ đa tật chiếm 12,62 %.Trẻ khuyết tật nặng chiếm khoảng 31% [12]. Nguyên nhân gây nên khuyết tật chủ yếu là do bẩm sinh, bệnh tật, do hậu quả chiến tranh và do tai nạn lao động. Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai… Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và triển khai nhiều hoạt động nhằm trợ giúp cho người khuyết tật, đặc biệt là sau khi Luật cho người khuyết tật và các chính sách hỗ trợ liên quan được thực hiện cuộc sống của người khuyết tật 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong và ngoài các trung tâm xã hội đã được quan tâm hơn rất nhiều đặc biệt là trong việc dạy nghề, hỗ trợ trong việc tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Bên cạnh những hoạt động đã làm được thì hoạt động hỗ trợ kỹ năng sống, quan tâm đến các vấn đề tâm lý trong các trung tâm cho trẻ em khuyết tật vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng đắn.
Để trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trong trung tâm nói riêng có thể hòa nhập với xã hội một cách tốt hơn thì ngoài việc giáo dục, dạy nghề cho các em chúng ta cũng cần phải chú trọng đến vấn đề đảm bảo các kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật để các em có tâm thế vững vàng và những kỹ năng cần có để có thể hòa nhập cộng đồng một cách tốt hơn. Tỉnh Nghệ An nằm ở vùng Bắc Trung Bộ nước Việt Nam, với địa hình đồi núi bị chia cắt phức tạp, việc đi lại không thuận lợi nên nhiều vùng dân tộc còn gặp khó khăn và bị hạn chế về nhiều mặt trong đó có việc tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ khuyết tật. Dân số Nghệ An gần 3 triệu người với 20 huyện thị xã thành phố. Tỉnh Nghệ An có gần 203.900 đối tượng [44] là người khuyết tật, so với toàn quốc thì Nghệ An là tỉnh có số người khuyết tật cao nhất.
Trung tâm dạy nghề người tàn tật Nghệ An là trung tâm dạy nghề lớn nhất của tỉnh về công tác giáo dục và dạy nghề cho người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng. Ngoài số lượng trẻ khuyết tật từ thành phố còn có trẻ khuyết tật từ các vùng quê của tỉnh đến nhập học, phần nhiều trong số đó là những trẻ em, gia đình có hoàn cảnh khó khăn từ các vùng nông thôn, miền núi đến với hi vọng được học tập và đào tạo nghề. Mặc dù đây là trung tâm dạy nghề cho người khuyết tật lớn nhất của tỉnh, đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết với nghề, là trung tâm áp dụng mô hình hoạt động giáo dục, dạy nghề cho trẻ khuyết tật khá hiệu quả nhưng với số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng của Tỉnh quá đông nên việc 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giúp đỡ được các đối tượng còn gặp những hạn chế nhất định. Đặc biệt là trong việc tiếp cận với các khóa học về kỹ năng sống cho các em vẫn chưa được quan tâm, trong khi đó các kiến thức và kỹ năng (mang tính bài bản chuyên nghiệp) của cán bộ, nhân viên trong trung tâm - với tư cách là một nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp lại còn nhiều hạn chế.
Tất cả những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi hướng đề tài nghiên cứu: “Hoạt động hỗ trợ trẻ khuyết tật hòa nhập cộng đồng tại Trung tâm dạy nghề người tàn tật Nghệ An” 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Nghiên cứu trên thế giới về vấn đề hòa nhập cho trẻ khuyết tật Trên thế giới có các nghiên cứu về trẻ khuyết tật với những nhóm người và trẻ khuyết tật khác nhau. Trong đó, nhiều nghiên cứu về các hoạt động trợ giúp người khuyết tật nói chung và TKT nói riêng là vấn đề được giới chuyên môn quan tâm và trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Đã có các vấn đề được nghiên cứu như hòa nhập cho trẻ hướng vào xã hội, tại cộng đồng, địa bàn nơi trẻ sinh sống, trong trường lớp, trong các hoạt động xã hội khác… Nghiên cứu của Ervin Goffman (1963) đã miêu tả 3 loại kì thị: (1) “sự ghê sợ cơ thể”, tức là những kì thị liên quan đến những biến dạng thể chất; (2) “nhược điểm về tính cách của một cá nhân”, chẳng hạn như một người bị coi là thiếu ý chí nếu có những đam mê không bình thường hoặc không trung thực; (3) “kỳ thị bộ lạc”, tức là kì thị về sắc tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo hoặc làm việc hay tham gia một tổ chức xã hội bị khinh miệt. Công trình sau đó của Parker và Aggleton (2003) đã coi kì thị là một quá trình xã hội, sản sinh và tái sản sinh ra những mối quan hệ về quyền lực và sự kiểm soát. Họ cũng nghiên cứu kì thị được sử dụng như thế nào để biến sự khác biệt thành sự bất 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bình đẳng, giúp một số nhóm người hạ thấp giá trị của nhóm khác dựa trên những thuộc tính “khác biệt” (Ogden và Nyblade, 2005). Theo định nghĩa của Goffman, tình trạng khuyết tật có thể dẫn đến kỳ thị loại thứ nhất đối với người khuyết tật.
Tuy nhiên, một số dạng khuyết tật cũng có thể dẫn đến kỳ thị loại thứ hai. Ngoài ra, quan điểm truyền thống coi khuyết tật là sự trừng phạt tội lỗi của tổ tiên, thần linh cũng có ảnh hưởng lớn ở đây. Vì vậy, khuyết tật có liên quan đến sự xỉ nhục và sự thương hại. Kỳ thị có lẽ xảy ra ở mức độ nặng nhất đối với người khuyết tật về tâm thần vì theo quan điểm của đạo Phật và thuyết duy linh thì họ bị coi là bị quỷ ám (Hunt, 2002, dẫn lại từ viện nghiên cứu phát triển xã hội, 2009) [20].
Từ những nghiên cứu này, chúng ta có thể liên hệ đến tình trạng kì thị ở Việt Nam khi vẫn có nhiều người (đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa) cho rằng, khuyết tật (nhất là những người bị khuyết tật bẩm sinh) là sự trừng phạt của tổ tiên, thần linh đến cá nhân, gia đình đấy vì một lỗi lầm nào đó mà họ đã gây ra, hay nói một cách khác nó là “luật nhân quả” mà họ phải gánh chịu. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người có định kiến về người khuyết tật, không chỉ người khác có cái nhìn kì thị mà có một số người khuyết tật cảm thấy tự ti và nhiều khi kì thị chính bản thân mình. Nghiên cứu “Supporting Families including children with disabilities” [24] dịch là “Hỗ trợ gia đình bao gồm trẻ em khuyết tật” năm 2008, của hai tiến sỹ Eileen Brennan và Julie M. Rosenzweig, Nhân viên xã hội chuyên nghiệp Lisa Stewart đã nhấn mạnh đến việc chăm sóc trẻ có nhu cầu đặc biệt (ở đây nhấn mạnh đến trẻ khuyết tật) trong các gia đình ở Mỹ.
Tại đây, nghiên cứu đã đưa ra những số liệu về nhóm trẻ khuyết tật có nhu cầu chăm sóc đặc biệt, về sự khó khăn của trẻ em trong vấn đề hòa nhập và học tập, sự khó khăn của cha mẹ về thời gian, tài chính và áp lực xã hội khi chăm sóc con cái là trẻ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khuyết tật, những rào cản ngăn trở sự phát triển hòa nhập của trẻ. Nghiên cứu này giúp chúng ta có một cái nhìn so sánh với những vấn đề khó khăn của TKT trong vấn đề hòa nhập và khó khăn của gia đình trong chăm sóc trẻ khuyết tật ở Việt Nam, những khó khăn tương tự mà cha mẹ có TKT gặp phải như phân chia công việc như thế nào để có thể chăm sóc trẻ, áp lực khi có con cái là TKT ra sao, khó khăn trong vấn đề cho trẻ học hòa nhập như thế nào…Nghiên cứu giúp chúng ta nhìn nhận một số phương pháp có thể áp dụng nhằm trợ giúp trẻ khuyết tật hòa nhập cộng đồng được tốt hơn như tăng cường sự tham gia của cộng đồng, giảm bớt sự kì thị, giúp đỡ, hỗ trợ cả trẻ và gia đình trong vấn đề ổn định tâm lý và cân bằng thời gian chăm sóc cho trẻ. Nghiên cứu “The inclusion of children with a disability in child care: The influence of experience, training and attitudes of childcare staff” [32] dịch là “Vấn đề hòa nhập trẻ em khuyết tật trong việc chăm sóc trẻ: Những ảnh hưởng từ kinh nghiệm, quá trình tập huấn và thái độ của độ ngũ đảm nhận công việc chăm sóc trẻ" của Heather Mohay, Emma Reid, Queensland University of Technology, Úc, năm 2013 đã điều tra các mối quan hệ giữa thái độ đối với người khuyết tật, đào tạo, kinh nghiệm và ảnh hưởng của mỗi khách thể ghi danh trong chăm sóc trẻ em đối với trẻ em khuyết tật. Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa đào tạo và kinh nghiệm của nhân viên chăm sóc trẻ và thái độ của họ đối với người khuyết tật.