phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách sách công nghệ trong lĩnh vực tự động hóa của ngành khai thác than hầm lò. Chƣơng 2: Thực trạng chính sách công nghệ trong lĩnh vực tự động hóa của ngành khai thác than hầm lò Việt Nam. Chƣơng 3: Hoàn thiện chính sách công nghệ trong lĩnh vực tự động hóa của ngành khai thác than hầm lò Việt Nam. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC TỰ ĐỘNG HÓA CỦA NGÀNH KHAI THÁC THAN HẦM LÕ 1.
Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm công nghệ Khi nói đến CN nhiều ngƣời không còn thấy xa lạ trong cuộc sống hàng ngày, nhƣ: công nghệ cơ khí, công nghệ nông nghiệp, công nghệ môi trƣờng, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ đào tạo, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ, công nghệ dệt may,.Nhƣng để hiểu đúng về CN lại là việc không hề đơn giản. Mặt khác, do trình độ phát triển của CN không ngừng nên quan niệm về CN có thể khác nhau theo thời gian. Đồng thời tùy từng lĩnh vực và mục đích sử dụng của CN nên sẽ đƣa ra khái niệm cũng khác nhau.
Sau đây xin nêu một số khái niệm về CN mà các cá nhân, tổ chức đƣa ra: Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP): công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng. Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Theo Giáo trình Khoa học luận Đại cƣơng của Vũ Cao Đàm (2009) đƣa ra một số định nghĩa nhƣ sau về công nghệ: (i) Công nghệ là một chuỗi các thao tác kỹ thuật, được thực hiện theo một trình tự nghiêm ngặt, có liên hệ logic, của quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin; (ii) Công nghệ là một phương tiện (device) bao gồm phần cứng và phần mềm của công nghệ; (iii) Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Trần Ngọc Ca (2007) định nghĩa nhƣ sau: Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng…) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ [9]. Baranson (1976) định nghĩa công nghệ nhƣ sau: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) đƣa ra khái niệm về công nghệ nhƣ sau: Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và qui tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định [22;31]. Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (United Nations Industrial Development Organization – UNIDO): công nghệ là hệ thống tập hợp kiến thức và kết quả của khoa học ứng dụng nhằm mục đích biến đổi nguồn lực tự nhiên thành những mục tiêu sinh lợi cho xã hội [25].
Theo Luật Chuyển giao Công nghệ (2006): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm[16]; Luật Khoa học và Công nghệ (2013) của Việt Nam đƣa ra khái niệm về công nghệ: công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [18]; Luật Chuyển giao Công nghệ (2017) của Việt Nam đƣa ra khái niệm về công nghệ: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [19]. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, từ các khái niệm nêu trên, Luận văn lựa chọn khái niệm về công nghệ nêu tại Luật Chuyển giao Công nghệ (2017): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Đây là khái niệm đƣợc cho là phù hợp đối với tình hình phát triển các lĩnh vực của Việt Nam hiện nay (kinh tế, KH&CN, giáo dục, tài chính ngân hàng,.), bởi nền kinh tế của chúng ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, do đó sẽ chịu ảnh hƣởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của các quốc gia có nền KH&CN phát triển, lúc này sẽ xuất hiện những CN và hình thức kinh doanh mới. Trong khái niệm CN này không chỉ đơn thuần áp dụng trong lĩnh vực kỹ thuật hoặc không phải kỹ thuật, mà CN còn bao trùm cả trong lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ: CNTT trong ngân hàng, những cách thức, biện pháp huy động vốn, sử dụng vốn, nâng cao số lƣợng vòng quay của vốn một cách hiệu quả vui chơi giải trí,.mà các khái niệm khác không đề cập đến.
Khái niệm chính sách Theo Kỹ năng Đánh giá Chính sách của Vũ Cao Đàm, Trịnh Ngọc Thạch, Đào Thanh Trƣờng (2017). Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát của một hệ thống xã hội [11,15]. Theo Anderson (1984), Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề. Theo Considine (1994), Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thể chế công để kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ đã làm được.
Theo Colebatch (2002), Chính sách là một phần của khung khổ các ý kiến, mà qua đó, chúng ta được điều chỉnh bởi một cách thức hợp lý, giữa các khía cạnh đa chiều của cuộc sống. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, G55nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa.
Từ những khái niệm trên, Luận văn lựa chọn khái niệm về chính sách nhƣ sau: Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát của một hệ thống xã hội. Khái niệm chính sách công nghệ Với tác phẩm The New Economichính sách of Technology Policy, Edward Elgar [1;15] đã bàn đến khái niệm CSCN. Theo đó, CSCN bao gồm các thành tố: (i) Là tập hợp các biện pháp, giải pháp, kế hoạch của bốn thành phần thiết bị, con người, thông tin và tổ chức của một tổ chức hoặc một chủ thể quản lý đưa ra nhằm định hướng cho hoạt động công nghệ phát triển. (ii) Chính sách về thành phần thiết bị: Là các giải pháp, phương thức, hoạch định, dự trù kế hoạch mua sắm , đầu tư, xây dựng, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống thiết bị, dây chuyền sản xuất, máy móc, duy tu, chỉnh trang cơ sở sản xuất, trụ sở làm việc.
nhằm tạo nên sản phẩm phù hợp và hiệu quả với thị trường. (iii) Chính sách về nhân lực (con người): Là các phương pháp, giải pháp nhằm đào tạo, phát triển kỹ năng và đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người kết hợp với kinh nghiệm sản xuất, đồng thời thông qua đó đánh giá, thẩm định về năng lực của con người, để có các biện pháp, hoạch định thay đổi phù hợp, hiệu quả, tích cực cho con người phát triển. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (iii) Chính sách về tổ chức: Là các phương thức, cách thức, nguyên tắc, bố trí kết hợp với thực tiễn nhằm áp dụng, khai thác, vận hành thành phần thiết bị, hệ thống dây chuyền sản xuất, máy móc.hiệu quả bởi con người thông qua quy tắc công việc, tổ chức, sự thuận lợi công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc. (iv) Chính sách về thông tin: Là các giải pháp, phương pháp tạo điều kiện cho con người tiếp cận, học hỏi, cập nhật, tích lũy thông tin, dữ liệu nhằm tạo nên mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố con người, thiết bị, thông tin được tổ chức toàn diện và phát triển theo mong muốn của đơn vị.
Nhƣ vậy trên cơ sở các thành tố trên, Luận văn lựa chọn khái niệm về CSCN nhƣ sau: Là tập hợp các biện pháp, giải pháp, kế hoạch của bốn thành phần thiết bị, con ngƣời, thông tin và tổ chức của một tổ chức hoặc một chủ thể quản lý đƣa ra nhằm định hƣớng cho hoạt động công nghệ phát triển. Khái niệm tự động hóa Khái niệm “tự động hóa” (automation), bắt nguồn từ “tự động” (automatic) và trở nên phổ biến từ năm 1947, khi tập đoàn General Motors thành lập Bộ phận TĐH. Đây cũng là lúc các ngành công nghiệp bắt đầu ứng dụng cơ chế điều khiển phản hồi (feedback controller) một cách mạnh mẽ, mặc dù công ngệ này đã đƣợc phát minh từ những năm 1930 [27]. Các tác giả: Trần Văn Địch, Trần Xuân Việt, Nguyễn Trọng Doanh, Lƣu Văn Nhang (2001) đã đƣa ra khái niệm TĐH quá trình sản xuất nhƣ sau: TĐH là tổng hợp các biện pháp được sử dụng khi thiết kế các quá trình sản xuất và công nghệ mới, tiên tiến.