phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 12 tiết. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NỘI DUNG Chƣơng 1. NGUỒN GỐC NHẬN THỨC LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY KINH NGHIỆM VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỈ XVII 1.
Chủ nghĩa duy kinh nghiệm Chủ nghĩa duy kinh nghiệm là khuynh hướng nhận thức luận cho nguồn gốc tri thức duy nhất là kinh nghiệm cảm tính. Đồng thời với việc đề cao giá trị của cảm giác, chủ nghĩa duy kinh nghiệm lại coi thường vai trò của lý tính trong quá trình nhận thức. Các nhà triết học duy kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là các nhà Ngụy biện (giữa thế kỉ V – đầu thế kỉ IV tr.CN), họ đã phủ nhận các suy đoán duy lý về bản chất của thế giới để tập trung vào các thực thể tương đối cụ thể hơn, chẳng hạn như con người và xã hội. Các nhà ngụy biện đã viện đến các luận cứ hoài nghi ngữ nghĩa, sử dụng các ví dụ mà người khác có thể dễ dàng thấy được để làm suy yếu các tuyên bố của lý tính thuần túy.
Họ phủ nhận thực tại hoặc nếu có thực tại thì nó chỉ là những gì mà giác quan ta nhận biết mà thôi. Protagoras (490 – 420 TCN) coi cảm giác là nguồn gốc của mọi tri thức. Ông cho rằng cảm giác như thế nào thì sự vật tồn tại như thế. Con người không nên tìm sự thật bên ngoài cái mà mắt ta trông thấy.
Ông phủ nhận vai trò của nhận thức lý tính. Phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý của Platon, trong những năm cuối đời Aristote (384 – 322 tr.CN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm. Aristote dùng thuật ngữ “triết học tự nhiên” để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận qui nạp để đi đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên cứ liệu giác quan. Cách tiếp cận này 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã đối ngược hẳn với lý thuyết hình thức của Platon, lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm.
Trong các thời kì giữa và sau của mình, Aristote ngày càng không đồng ý với các quan niệm của Platon và phát triển một sự kì vọng ngày càng chặt chẽ về các khẳng định tường minh bằng thực nghiệm cho tất cả các kết luận từ qui nạp. Aristote còn khẳng định nguyên lý của chủ nghĩa duy kinh nghiệm rằng tri thức của con người về thực tại được đặt nền móng bằng trải nghiệm từ các giác quan “không có gì trong trí tuệ mà nó không đến đầu tiên từ các giác quan”. Các nhà Khắc Kỉ (đầu thế kỉ III – thế kỉ II Tr.CN) cũng đi sâu vào chi tiết để cắt nghĩa làm sao con người có khả năng đạt tới tri thức. Họ cho rằng các từ diễn tả tư tưởng và các tư tưởng bắt nguồn từ tác động của một vật nào đó vào trí khôn.
Nó in hình ảnh lên trí khôn qua thị giác giống như cái ấn in hình của nó lên miếng sáp. Liên tiếp đối diện với thế giới của các sự vật sẽ làm gia tăng con số của các ấn tượng, phát triển trí nhớ của chúng ta. Các nhà Khắc Kỉ khẳng định rằng mọi tư tưởng đều có tương quan nào đó với các giác quan, cả các tư tưởng diễn tả các phán đoán và suy luận cũng vậy. Tư duy của chúng ta bất kể loại nào cũng đều bắt đầu bằng ấn tượng, và một số tư duy dựa trên những ấn tượng phát sinh từ bên trong chúng ta, như trường hợp các tình cảm.
Vì vậy các tình cảm có thể cho chúng ta tri thức, chúng là nguồn của các tri giác rồi các tri giác này lại trở thành nền tảng cho cảm giác chắc chắn. Họ cho rằng mọi tư tưởng đều phát sinh từ sự tác động của các đối tượng vào các giác quan, tức là khẳng định rằng không có cái gì tồn tại thực sự nếu nó không có một hình thức vật chất nào đó. Các nhà Khắc Kỉ cũng chỉ ra rằng để tránh những biểu tượng phản ánh sai lạc đối tượng, con người nên rà soát xem: - Trí tuệ con người có ở trạng thái lành mạnh không? - Các cơ quan cảm giác có bình thường không? 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sự thay đổi khoảng cách giữa các đối tượng và tri giác có ảnh hưởng tới tính chân thực của tri giác về đối tượng không? - Thời gian cần thiết để tri giác về đối tượng có đầy đủ không? - Các đặc tính đối tượng có được tri giác đồng bộ không? - Giữa đối tượng và tri giác có bị cản trở bởi chướng ngại nào không? Nếu những vấn đề vừa nêu được giải quyết một cách thỏa đáng, đầy đủ theo hướng khẳng định thì biểu tượng mà chủ thể có được về một sự vật là sự hội lý trọn vẹn đối tượng hay biểu tượng “Katalèpsis”. Khái niệm Katalèpsis có thể hiểu rộng ra là sự nhất trí giữa chủ thể và đối tượng, hay nói như Zenon (300Tr.CN), sự ôm trọn toàn bộ vũ trụ theo tinh thần hòa điệu tự nhiên – con người.
Katalèpsis chính là cơ sở và chuẩn mực của chân lý. Nhưng duy cảm luận của Khắc Kỉ không phải là duy cảm luận cực đoan vì nó thừa nhận vai trò của lý trí. Chính lý trí làm cho tri thức đáng tin cậy ở cấp độ biểu tượng cảm tính trở thành tri thức tuyệt đối, đưa con người tới nấc thang cao hơn của sự hòa điệu. Đối với các nhà Khắc Kỉ, nhận thức bao giờ cũng hướng tới sự hòa điệu thẩm mĩ.
Chúng ta nhận thức tự nhiên là để sống cùng tự nhiên. Chúng ta lấy ý nghĩa cao cả của quá trình khám phá thế giới để khám phá chính bản thân mình và từ đó vươn lên tầm cao thiêng liêng nhất, thấu hiểu lẽ nhiệm màu của cuộc sống con người cũng như vũ trụ. Epicure (341 – 270TCN) cũng được coi là một trong những nhà duy kinh nghiệm đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại, xem cảm giác là nguồn gốc duy nhất của tri thức chân lý. Trong tuyên bố của Epicure, chẳng hạn, ông cho rằng, cảm giác là cơ quan đem đến những biểu hiện đáng tin cậy nhất về thực tại đã cho thấy hình ảnh nhà duy kinh nghiệm tiêu biểu thời kì Hy Lạp hóa.
Trong “qui luật học”, Epicure chỉ ra ba tiêu chuẩn quan trọng nhất của chân lý bao gồm cảm giác, dự cảm, xúc cảm. Cảm giác là sự liên kết trực tiếp 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể và đối tượng. Càng tiếp cận gần với đối tượng thì tri thức về đối tượng càng chân thực. Các cơ quan cảm giác thường xuyên va chạm với đối tượng hiện thực, nên đã hàm chứa đối tượng hiện thực rồi, vì thế không thể xảy ra lầm lẫn.
Phủ nhận vai trò của cảm giác trong nhận thức là phủ nhận chính thực tại hiển nhiên. Dự cảm hay tiền cảm hình thành do những cảm giác về đối tượng lặp đi lặp lại nhiều lần được lưu giữ nơi chủ thể dần dần tạo nên đường mòn, sau mỗi lần va chạm với thực tại lại mở rộng thêm. Chẳng hạn nghe tiếng khóc người ta có thể xác định tiếng khóc của đứa trẻ hay người lớn, ngửi mùi hoa có thể đoán biết hoa gì…Mỗi sự va chạm đều gợi lên những kí ức, nhờ đó mà chủ thể lập tức nhận biết và phân biệt các đối tượng một cách hiển nhiên nhờ đặc tính thường xuyên lặp lại của chúng. Đôi khi Epicure gọi những tiền cảm là những quan niệm tổng quát, nhưng không phải là quan niệm của lý trí mà là những biểu tượng chung do cảm giác đem đến từ trước.
Xúc cảm là những ấn tượng tác động lên con người và gây ra những ấn tượng nhất định. Có hai loại xúc cảm trái ngược nhau là khoái cảm và đau đớn cùng với hai phản ứng tương tự là ưa thích và né tránh. Khoái lạc và đau đớn tựa như những dấu ấn lành dữ mà thiên nhiên ghi lại trên con đường cuộc sống. Nhưng do chỗ con người luôn phấn đấu vươn tới khoái lạc, nên khoái lạc vừa là khởi điểm vừa là mục tiêu của cuộc sống hạnh phúc.
Epicure cũng khẳng định ưu thế của cảm giác trước lý trí, lưu ý rằng nếu có những sai lầm trong nhận thức thì lý trí phải chịu trách nhiệm trước tiên. Thời Trung cổ, Thomas Aquino (1225 – 1274) thu nhận từ Aristote tiên đề triết học nổi tiếng “không có gì trong trí tuệ mà nó không đến đầu tiên từ các giác quan”. Ông chứng minh rằng sự tồn tại của Chúa trời có thể chứng minh bằng lập luận từ dữ liệu giác quan. Aquino sử dụng một biến thể của khái niệm của Aristote về “trí tuệ chủ động” mà ông giả nghĩa là khả năng trừu tượng hóa ý nghĩa phổ quát từ dữ liệu kinh nghiệm cụ thể.
Aquino cho 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rằng trí khôn con người biết điều nó biết nhờ đối chiếu với các đối tượng hiện thực và cụ thể. Trí khôn có khả năng lĩnh hội cái vĩnh hằng và vững bền nơi các sự vật khả giác. Khi chúng ta cảm giác những sự vật hay người, chúng ta biết bản chất của chúng mặc dù chúng luôn trong quá trình thay đổi, ví dụ một cái cây hay một con người. Điều chúng ta biết về chúng đó là chúng hơn hay kém một cái cây hay một người nhưng chúng ta không nghi ngờ chúng là cây hay người.
Nói tóm lại trí tuệ thấy cái chung trong cái riêng. Trí khôn không có các ý niệm bẩm sinh, đúng hơn nó ở tình trạng nhận thức tiềm tính. Khác với các trí tuệ thiên thần, trí khôn con người vì ở trong sự kết hợp hồn và xác nên có đối tượng tri thức tự nhiên của nó là các tính chất cốt yếu của các sự vật vật lý. Trí khôn hoạt động của con người có thể nhận ra khía cạnh khả tri của các đối tượng khả giác, khám phá ra bản chất chung trong các sự vật riêng.
Như vậy, theo Aquino, nhận thức là quá trình phản ánh các sự vật vào trí khôn con người. Ông phủ nhận các ý niệm bẩm sinh. Chủ nghĩa duy kinh nghiệm thời Trung cổ còn được thể hiện ở các nhà duy danh luận. Theo họ, cái chung tức những khái niệm không phản ánh cái gì trong hiện thực, chúng chỉ là những tên gọi trống rỗng, không chứa đựng một nội dung nào cả.