Luận án Tiến sĩ: Xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực đồng bằng sông cửu long đến năm 2020, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Kinh Doanh Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2012

204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC

1.1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực

1.2. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực

1.3. Ý nghĩa của việc xác định sản phẩm chủ lực

1.4. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực

1.5. Phương pháp xác định và phát triển sản phẩm chủ lực

1.6. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực

1.7. Qui trình xác định sản phẩm chủ lực

1.8. Kinh nghiệm phát triển sản phẩm chủ lực của một vài quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

1.8.1. Kinh nghiệm của Indonesia

1.8.2. Kinh nghiệm của Philippines

1.8.3. Kinh nghiệm của Thailand

1.9. Bài học rút ra cho Luận án

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÁC ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI GIAN QUA

2.1. Tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL

2.2. Điều kiện về các yếu tố sản xuất để phát triển sản phẩm chủ lực

2.3. Qui mô cầu thị trường về các sản phẩm chủ lực

2.4. Chiến lược phát triển và môi trường cạnh tranh của sản phẩm chủ lực

2.5. Ngành sản xuất và dịch vụ phụ trợ cho phát triển sản phẩm chủ lực

2.6. Thực trạng xác định và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL

2.6.1. Hình thành và phát triển tự nhiên dựa trên lợi thế tính đặc thù vùng

2.6.2. Thực trạng xác định sản phẩm chủ lực của các địa phương ĐBSCL

2.6.3. Chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua

2.7. Nhận xét chung

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC ĐBSCL ĐẾN NĂM 2020

3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

3.2. Quan điểm phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

3.3. Định hướng mục tiêu phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

3.4. Xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020

3.5. Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020

3.6. Xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL giai đoạn 2006 - 2010

3.7. Phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020

3.8. Xây dựng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020

3.9. Giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

3.10. Một số kiến nghị hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

3.11. Kết luận chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, nổi bật với tiềm năng sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Việc xác định sản phẩm chủ lực là rất quan trọng để phát triển kinh tế bền vững. Sản phẩm chủ lực không chỉ tạo ra giá trị gia tăng mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng. Để phát triển sản phẩm chủ lực, cần có sự kết hợp giữa các yếu tố như nguồn lực, thị trường và chính sách hỗ trợ.

1.1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực

Sản phẩm chủ lực được hiểu là những sản phẩm có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và có sức cạnh tranh lớn trên thị trường. Đối với ĐBSCL, các sản phẩm như gạo, thủy sản và trái cây nhiệt đới được xem là những sản phẩm chủ lực có tiềm năng phát triển mạnh mẽ.

1.2. Ý nghĩa của việc xác định sản phẩm chủ lực

Việc xác định sản phẩm chủ lực giúp các địa phương trong ĐBSCL tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo ra động lực phát triển kinh tế cho toàn vùng.

II. Vấn đề và thách thức trong phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL

Mặc dù ĐBSCL có nhiều tiềm năng, nhưng việc phát triển sản phẩm chủ lực vẫn gặp nhiều thách thức. Tình trạng sản phẩm chủ lực phát triển chậm, thiếu tính bền vững và chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế là những vấn đề cần giải quyết. Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ trong chính sách phát triển cũng là một yếu tố cản trở.

2.1. Thực trạng phát triển sản phẩm chủ lực

Thực trạng cho thấy sản phẩm chủ lực của ĐBSCL còn ít và chưa phát huy hết tiềm năng. Nhiều sản phẩm chưa được đầu tư đúng mức về công nghệ và chất lượng, dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp trên thị trường.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm chủ lực

Các yếu tố như biến đổi khí hậu, thị trường tiêu thụ không ổn định và chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của sản phẩm chủ lực. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những yếu điểm này.

III. Phương pháp xác định và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL

Để xác định và phát triển sản phẩm chủ lực, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Việc phân tích SWOT và khảo sát thị trường là những bước quan trọng trong quá trình này. Các tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực cũng cần được xây dựng dựa trên thực tế và đặc thù của vùng.

3.1. Phân tích SWOT trong xác định sản phẩm chủ lực

Phân tích SWOT giúp nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển sản phẩm chủ lực. Điều này giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan và đưa ra quyết định đúng đắn.

3.2. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực

Các tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực cần bao gồm khả năng tạo ra giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và tiềm năng phát triển. Việc xây dựng tiêu chí rõ ràng sẽ giúp các địa phương dễ dàng hơn trong việc lựa chọn sản phẩm chủ lực.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sản phẩm chủ lực ĐBSCL

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc xác định và phát triển sản phẩm chủ lực đã mang lại nhiều lợi ích cho ĐBSCL. Các sản phẩm chủ lực như gạo và thủy sản đã có những bước tiến đáng kể trong xuất khẩu. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

4.1. Kết quả đạt được từ phát triển sản phẩm chủ lực

Nhiều sản phẩm chủ lực đã đạt được thành công trong việc xuất khẩu, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế địa phương. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển sản phẩm chủ lực.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học từ những thành công và thất bại trong phát triển sản phẩm chủ lực cần được tổng kết và áp dụng cho các giai đoạn tiếp theo. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác cũng là một yếu tố quan trọng.

V. Kết luận và tương lai của sản phẩm chủ lực ĐBSCL

Việc xác định và phát triển sản phẩm chủ lực là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết cho sự phát triển bền vững của ĐBSCL. Tương lai của sản phẩm chủ lực phụ thuộc vào sự đầu tư đúng mức và các chính sách hỗ trợ hiệu quả. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan để đạt được mục tiêu này.

5.1. Định hướng phát triển sản phẩm chủ lực đến năm 2020

Định hướng phát triển sản phẩm chủ lực cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Các sản phẩm chủ lực cần được phát triển theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường.

5.2. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức liên quan là rất quan trọng trong việc phát triển sản phẩm chủ lực. Cần có các chương trình hỗ trợ cụ thể để khuyến khích đầu tư và phát triển sản phẩm.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực đồng bằng sông cửu long đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC XÁC ĐỊNH SẢN PHẨM CHỦ LỰC VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CHỦ LỰC 1. Tổng quan về sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực 1. Định nghĩa về sản phẩm chủ lực 1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm vụ chủ lực Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.

Những ngành hoặc sản phẩm này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Điển hình nhất là Nhật bản, 20 năm sau thế chiến thứ 2 (1951 – 1973) đã trở thành nền kinh tế lớn của thế giới với GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được xem là thế mạnh cạnh tranh của Nhật giai đoạn này là tàu biển, xe máy, máy khâu, máy ảnh, ti vi, thép, ô tô, sản phẩm hóa chất, hàng dệt,. Kế đến là Trung Quốc, trong ba thập kỷ (từ 1978 đến 2007) với việc chuyển đổi từ nền công nghiệp không dựa vào lợi thế sang nền công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nhân công dồi dào với các sản phẩm cấp thấp, giá rẻ.

đã đưa nền kinh tế Trung quốc tăng trưởng một cách thần kỳ, đạt tốc độ trung bình hàng năm 9,5%. Kết quả là từ một nước kém phát triển, Trung quốc đã vươn lên tốp bốn nền kinh tế hàng đầu thế giới (WB, 2007). Tương tự, thông qua hai cuộc “Cách mạng xanh” với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), công nghiệp phục vụ nông nghiệp,. Ấn độ đã trở thành hiện tượng đặc biệt trong phát triển kinh tế nhờ vào xác định và phát triển các ngành sản phẩm chủ lực phù hợp với lợi thế của mình [55].

Ở Việt Nam, sản phẩm chủ lực hay sản phẩm công nghiệp chủ lực là khái niệm mới và thường xuất hiện trong một số văn bản quản lý Nhà nước vào thập niên đầu tiên thế kỷ XXI. Lúc đầu, đây chỉ là thuật ngữ dùng để chỉ những sản phẩm có khả năng xuất khẩu mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Gần đây, khái niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt.

Dưới đây là những điểm khác nhau điển hình khi nói về sản phẩm chủ lực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13  Thể hiện trong các chủ trương, chính sách nhà nước + Trước hết là khái niệm “sản phẩm chủ lực” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) nêu ra trong Chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005: “ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực”, là sản phẩm giúp gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ cũng như tạo điều kiện đẩy nhanh áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo phương châm lấy tiết kiệm năng lượng, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm làm trọng tâm. + Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2002-2005" đã giới hạn sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp với thuật ngữ “sản phẩm công nghiệp chủ lực”. Theo Chương trình, những sản phẩm này phải có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của Thành phố.

Ngoài ra, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2002-2005 phải vừa có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động và thân thiện với môi trường. UBND TP HCM (2002) + Một khái niệm khác có thể tham khảo là “sản phẩm công nghiệp chủ lực” của Tp Hà Nội ghi trong “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”, Theo cách mô tả của Qui chế này thì “sản phẩm chủ lực” đã được giới hạn trong phạm vi ngành công nghiệp với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; Được tạo ra trên dây chuyền thiết bị có công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định ở mức cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng GDP công nghiệp lớn. UBND TP Hà Nội (2009) + Cùng một quan niệm với Tp Hồ Chí Minh và Tp Hà Nội, tỉnh Đồng Nai với “Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định. Đây là những sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị gia tăng cao, có vị trí chi phối và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng như có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

Nói cách khác, đối với tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước. UBND tỉnh Đồng Nai (2007).  Thể hiện trong các bài viết, tác phẩm nghiên cứu GS.TS Võ Thanh Thu, Giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Chuyên gia nghiên cứu khu công nghiệp, trong một bài viết của mình cũng đã sử dụng khái niệm “sản phẩm chủ lực” và cho rằng nó phải có các đặc trưng như: Phải có tương lai phát triển mạnh về công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương , là đặc trưng cho địa phương; Phải có tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao; Có thể là hữu hình hoặc là vô hình. Như vậy, GS.TS Võ Thanh Thu đã đưa ra thêm 2 điểm khác quan trọng là sản phẩm chủ lực phải có sự lan tỏa đến các ngành khác, sản phẩm khác và lôi kéo chúng cùng phát triển, đồng thời sản phẩm chủ lực không chỉ là hữu hình mà còn có thể là vô hình nữa.

Với TS Lê Tấn Bửu, Trưởng khoa Thương mại-Du lịch-Marketing, trường Đại học Kinh tế TP.HCM thì sản phẩm chủ lực phải là sản phẩm trong công nghiệp chế biến nông, thủy sản vì đây là thế mạnh của Việt Nam mà trọng điểm là ĐBSCL, đồng thời chúng còn là nguồn cung sản phẩm thiết yếu thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho toàn xã hội. Võ Thanh Thu và Lê Tấn Bửu (2004). Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi thời kỳ khác nhau việc nhận thức về sản phẩm chủ lực có khác nhau. Chính từ sự nhận thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau.

Tuy nhiên, có một vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia, địa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 phương và vùng lãnh thổ. Chính vì điều này mà trước tiên, Luận án cần đi đến một nhận thức chung, nhất quán về sản phẩm chủ lực. Nhận thức chung về sản phẩm chủ lực Trước hết, cần bắt đầu với thuật ngữ “chủ lực”. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục 2003 thì đây là lực lượng chính, giữ vị trí nòng cốt và có tác dụng quyết định.

Ứng với tiếng Anh là “driving force” (lực lượng có tính dẫn đạo) hay “main force” (lực lượng chính). Thuật ngữ này được dùng phổ biến trong quân sự để chỉ lực lượng quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định chiến trường như “quân chủ lực”, “bộ đội” chủ lực.Lực lượng này được sử dụng khi cần giải quyết các mục tiêu chiến lược, quyết định đến phạm vi toàn cục. Đặc trưng của chủ lực là tập trung với số lượng lớn, được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác chiến trên diện rộng. Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại.

Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế biến có thịt đóng hộp, cá đóng hộp, thịt đông lạnh, cá đông lạnh., ngành hóa mỹ phẩm có bột giặt, nước xả, chất tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm.Khi tham khảo các tài liệu tiếng Anh, tác giả thường thấy xuất hiện các từ hoặc cụm từ có thể được xem là tương ứng với sản phẩm chủ lực hay ngành hàng chủ lực như: key products, main products, major products hoặc key sectors, main sectors.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ