CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về chỉ số giá tại thị trường chứng khoán 1. Lịch sử hình thành các chỉ số giá tại thị trường chứng khoán Nhà đầu tư đã được thường xuyên tiếp cận với các dữ liệu về các cổ phiếu ở London từ năm 1698, nhưng phải chờ đến hơn 200 năm sau mới được tiếp xúc với một chỉ số phản ánh được hoạt động của thị trường. Để giúp cho nhà đầu tư nắm bắt được biến động chung của thị trường cổ phiếu Mỹ hằng ngày, Charles H.Dow và Edward D.Jones đã giới thiệu chỉ số trung bình Dow Jones, chỉ số cổ phiếu đầu tiên trên thế giới, vào năm 1884.
Chỉ số này xuất hiện trên tờ the Customers’ afternoon letter, bao gồm giá của 9 công ty đường sắt và hai công ty công nghiệp. Nó trở thành chỉ số trung bình vận tải Dow Jones. Do nghĩ rằng các tập đoàn công nghiệp, chứ không phải đường sắt, mới là “thị trường đầu cơ vĩ đại của tương lai”, hai ông đưa ra chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (DJIA) vào năm 1896. Với mức khởi đầu là 40.96 và bao gồm 12 cổ phiếu từ những ngành công nghiệp quan trọng.
Hiện tại, nhà đầu tư có thể chọn lựa từ hàng ngàn chỉ số khác nhau đo lường và giám sát các cổ phiếu và các loại tài sản. Khái niệm chỉ số giá cổ phiếu và phương pháp xác định giá trị của chỉ số giá cổ phiếu 1. Khái niệm chỉ số giá cổ phiếu Một chỉ số thị trường cổ phiếu đại diện cho một thị trường cổ phiếu nhất định, một phân khúc thị trường, hay một hạng mục tài sản. Hầu hết các chỉ số được xây dựng như là một danh mục đầu tư của thị trường cổ phiếu.
Phương pháp xác định giá trị của chỉ số giá cổ phiếu Giá trị của một chỉ số được tính toán dựa trên cơ sở thường xuyên sử dụng cả giá thị trường thực tế và giá thị trường ước tính của các cổ phiếu riêng lẻ, được biết như các cổ phiếu thành phần. Với mỗi chỉ số thị trường cổ phiếu, các nhà đầu tư có thể sẽ gặp phải hai dạng của cùng một chỉ số (ví dụ, một chỉ số với các cổ phiếu có thành phần giống và tỷ trọng giống hệt nhau): một dạng dựa trên thu nhập từ chênh lệch giá và một dạng dựa trên tổng thu nhập. Với cái tên được đưa ra, một chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá, cũng được gọi là chỉ số giá, chỉ phản ánh giá của những cổ phiếu thành phần trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 chỉ số. Một chỉ số tổng thu nhập, ngược lại, không chỉ phản ánh giá của những cổ phiếu thành phần mà còn ở việc tái đầu tư tất cả các thu nhập nhận được kể từ thời điểm ban đầu.
Tại lúc lập ra, giá trị của 2 dạng chỉ số này thì bằng nhau. Tuy nhiên, theo thời gian, giá trị của chỉ số tổng thu nhập, bao gồm việc tái đầu tư của tất cả các cổ tức hay lãi nhận được, sẽ vượt quá giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá bởi việc tăng số lượng. Một cái nhìn về giá trị của mỗi dạng được tính toán vượt quá các minh họa nhiều khoảng thời gian. Giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá được tính toán như sau: N n P i i VPRI i 1 (1.1) D Với VPRI: giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá ni : số lượng các nhóm đơn lẻ cổ phiếu thành phần i trên hạng mục đầu tư chỉ số.
N : số lượng các cổ phiếu thành phần i trong chỉ số. Pi : giá cổ phiếu thành phần i D : giá trị của số chia Số chia là một số được chọn từ đầu. Nó thường xuyên được chọn, vì thế chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá có một giá trị ban đầu hợp lý, ví dụ 1,000. Người cung cấp chỉ số sẽ điều chỉnh giá trị của số chia cần thiết để tránh sự thay đổi trong giá trị của chỉ số - những thay đổi không thuộc về sư thay đổi của giá cổ phiếu thành phần.
Các phép tính toán chỉ số lợi nhuận có thể đo lường thu nhập từ chênh lệch giá hay tổng thu nhập. Thu nhập từ chênh lệch giá chỉ đo lường sự tăng lên về giá hay phần trăm thay đổi trong giá. Tổng thu nhập đo lường cả sự tăng lên về giá cộng với tiền lãi, cổ tức và các hình thức phân phối lợi nhuận khác. Với 1 chỉ số cổ phiếu thị trường, thu nhập từ chênh lệch giá được tính toán theo 2 cách, hoặc bằng phần trăm thay đổi trong giá trị của chỉ số lợi nhuận giá, hoặc bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 tỷ trọng trung bình của thu nhập từ chênh lệch giá của các cổ phiếu thành phần.
Thu nhập từ chênh lệch giá của 1 chỉ số được tính như sau: VPRI1 VPRI 0 PRI (1.2) VPRI 0 Với : PRI là thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số danh mục đầu tư (viết ở dạng số thập phân) VPRI1 là giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá ở thời điểm cuối VPRI0 là giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá ở thời điểm ban đầu Tương tự, thu nhập từ chênh lệch giá của mỗi cổ phiếu thành phần được tính như sau: PPRI1 PPRI 0 PRI (1.3) PPRI 0 Với: PRi là thu nhập từ chênh lệch giá của cổ phiếu thành phần i (viết ở dạng số thập phân) Pi1 là giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm cuối. Pi0 là giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm ban đầu. Vì thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số bằng với tỷ trọng trung bình của thu nhập từ chênh lệch giá các cổ phiếu thành phần, nên có thể viết: 𝑃 − 𝑃𝑖0 PRI = ∑𝑁 𝑁 𝑖=1 𝑤𝑖 𝑃𝑅𝑖 = ∑𝑖=1 𝑤𝑖 ( 𝑖1 )(1.4) 𝑃𝑖0 Với: PRI : thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số danh mục đầu tư (được viết ở dạng số thập phân) PRi : thu nhập từ chênh lệch giá của cổ phiếu thánh phần i (được viết ở dạng số thập phân) N : số lượng các cổ phiếu riêng lẻ trong chỉ số. Wi : tỷ trọng của cổ phiếu i LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Pi1 là giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm cuối.
Pi0 : giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm ban đầu. Phương trình 4 được viết lại như sau: PRI = w1PR1 + w2PR2 + … + wNPRN (1.5) Với: PRI là thu nhập từ chênh lệch giá của chỉ số danh mục đầu tư (được viết ở dạng số thập phân) PRi là thu nhập từ chênh lệch giá của cổ phiếu thành phần i (được viết ở dạng số thập phân) N là số lượng các cổ phiếu riêng lẻ trong chỉ số. Wi là tỷ trọng của cổ phiếu Tổng thu nhập đo lường sự tăng lên về giá cộng với cổ tức và các phân phối thu nhập khác. Vì thế, tổng thu nhập của một chỉ số là sự tăng giá, hay sự thay đổi trong giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá, cộng với thu nhập trong một khoảng thời gian, thể hiện như phần trăm của giá trị khởi điểm của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá.
Tổng thu nhập của một chỉ số được thể hiện như sau: 𝑉 − 𝑉𝑃𝑅𝐼0 + 𝐼𝑛𝑐𝑖 TRi = 𝑃𝑅𝐼1 (1.6) 𝑉𝑃𝑅𝐼0 Với: TRI là tổng thu nhập của chỉ số danh mục đầu tư (viết ở dạng số thập phân) VPRI1 là giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá ở thời điểm cuối VPRI0 là giá trị của chỉ số thu nhập từ chênh lệch giá ở thời điểm ban đầu. Inci tổng thu nhập (cổ tức) từ cổ phiếu i trong một khoảng thời gian. Tổng thu nhập của một chỉ số được tính toán dựa trên tỷ trọng trung bình của tổng thu nhập của các cổ phiếu thành phần. Tổng thu nhập của mỗi thành phần cổ phiếu trong chỉ số được tính toán như sau: 𝑃 − 𝑃0𝑖 + 𝐼𝑛𝑐𝑖 TRi = 1𝑖 (1.7) 𝑃0𝑖 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Với: TRi tổng thu nhập của các cổ phiếu thành phần i (như 1 số thập phân).
Poi giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm ban đầu P1i giá của cổ phiếu thành phần i vào thời điểm cuối. Inci : tổng thu nhập (cổ tức/tiền lãi) từ cổ phiếu i trong một khoảng thời gian. Bởi vì tổng thu nhập của chỉ số được tính toán dựa trên tỷ trọng trung bình của tổng thu nhập các cổ phiếu thành phần, nên có thể thể hiện tổng thu nhập như sau: 𝑃 − 𝑃𝑂𝑖 +𝐼𝑛𝑐𝑖 TRI = ∑𝑁 𝑁 𝑖=1 𝑤𝑖 𝑇𝑅𝑖 = ∑𝑖=1 𝑤𝑖 ( 1𝑖 )(1.8) 𝑃0𝑖 Phương trình 8 có thể được viết lại 1 cách đơn giản: TRI = w1TR1 + w2TR2 + … + wNTRN (1.9) Với: TRI :tổng thu nhập trên chỉ số danh mục đầu tư (viết ở dạng số thập phân) TRi : tổng thu nhập của cổ phiếu thành phần i (viết ở dạng số thập phân) Wi : tỷ trọng của cổ phiếu i (phần của danh mục đầu tư chỉ số được phân bổ tới cổ phiếu i). N : số lượng cổ phiếu trong chỉ số.
Các loại chỉ số giá cổ phiếu Có nhiều loại chỉ số vốn, bao gồm chỉ số thị trường chung, đa thị trường, khu vực và loại chỉ số. Chỉ số thị trường chung. Chỉ số thị trường vốn chung, như tên gọi của nó, đại diện cho tổng thể thị trường vốn và bao gồm những cổ phiếu đại diện cho hơn 90% cổ phiếu của thị trường được chọn. Ví dụ, chỉ số tổng hợp của SGDCK Thượng Hải là một chỉ số vốn hóa thị trường có điều chỉnh của tất cả các cố phiếu được giao dịch tại SGDCK Thượng Hải.
Ở Mỹ, chỉ số tổng hợp thị trường Wilshire 5000 là chỉ số vốn hóa thị trường có điều chỉnh bao gồm hơn 6000 cổ phiếu vốn và được đưa ra để đại diện cho toàn bộ thị trường vốn Hoa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. The Russel 3000, bao gồm 3000 cổ phiếu lớn nhất của thị trường vốn, đại diện cho 99% của thị trường vốn Mỹ. Chỉ số giá đa thị trường Chỉ số giá đa thị trường thường bao gồm các chỉ số từ những quốc gia khác nhau và được đưa ra để đại diện cho những thị trường có nhiều cổ phiếu. Chỉ số đa thị trường có thể đại diện cho những thị trường đa quốc gia, khu vực địa lý, những nhóm phát triển kinh tế và trong một số trường hợp là đại diện cho toàn bộ thế giới.