Luận văn UEH: Phân tích hành vi đóng BHXH của DN tại Quận 8, TPHCM

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh phân tích các nhân tác động đến hành vi đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trên địa bàn quận, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Bối cảnh và sự cần thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa của đề tài

0.6. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.1. Khái niệm về BHXH và các khái niệm khác có liên quan đến BHXH

1.1.1. Khái niệm chung về BHXH

1.1.2. Đặc điểm BHXH

1.1.3. Chức năng BHXH

1.1.4. Sơ lược về Quỹ BHXH

1.1.5. Hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ)

1.1.5.1. Khái niệm chung về hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ)
1.1.5.2. Ảnh hưởng của nợ đọng, trốn đóng BHXH đối với người lao động và quỹ BHXH
1.1.5.3. Kinh nghiệm các nước
1.1.5.4. Các kết quả nghiên cứu liên quan

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Thuyết hành động hợp lý (TRA)

2.2. Thuyết hành vi dự định (TPB)

2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4. Phân tích những nhân tố tác động đến hành vi đóng BHXH của DN

2.5. Phân tích hành vi đóng BHXH của DN

2.6. Các giả thuyết của mô hình nghiên cứu đề xuất

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế mô hình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Thiết kế nghiên cứu

3.4. Nghiên cứu sơ bộ và Xây dựng thang đo

3.4.1. Nghiên cứu sơ bộ

3.4.2. Xây dựng thang đo

3.5. Xây dựng bảng hỏi điều tra. Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu

3.6. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.6.1. Phương pháp Cronbach’s Alpha (đánh giá độ tin cậy)

3.6.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA - Exploratory Factor Analysis)

3.6.3. Phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng đóng BHXH của doanh nghiệp trên địa bàn Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh

4.2. Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận 8

4.3. Tình hình tham gia BHXH trên địa bàn Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh

4.4. Thông tin mẫu nghiên cứu

4.5. Phân loại các DN được khảo sát theo quy mô lao động

4.6. Phân loại Doanh nghiệp được khảo sát theo loại hình Doanh nghiệp

4.7. Tình hình nợ BHXH của những DN phân theo loại hình DN

4.8. Tình hình giải quyết chế độ của DN

4.9. Đánh giá thang đo

4.10. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố

4.11. Phân tích hồi quy

4.11.1. Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính

4.11.2. Kiểm định sự khác biệt về hành vi đóng BHXH giữa những DN có quy mô khác nhau

4.11.3. Kiểm định sự khác biệt về hành vi đóng BHXH giữa những DN có loại hình khác nhau

4.11.4. Kiểm định sự khác biệt về hành vi đóng BHXH giữa những DN có mức độ giải quyết chế độ BHXH khác nhau

4.12. Kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: GỢI Ý CHÍNH SÁCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hành vi đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp tại quận 8

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Tại quận 8, TP.HCM, hành vi đóng BHXH của doanh nghiệp đang gặp nhiều thách thức. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố tác động đến hành vi này, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi.

1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm xã hội

BHXH là một hình thức bảo vệ tài chính cho người lao động khi gặp rủi ro. Nó không chỉ đảm bảo an sinh xã hội mà còn góp phần ổn định kinh tế cho doanh nghiệp và cộng đồng.

1.2. Tình hình thực tế về đóng bảo hiểm xã hội tại quận 8

Tình hình đóng BHXH tại quận 8 cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nợ BHXH vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

II. Các nhân tố tác động đến hành vi đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đóng BHXH của doanh nghiệp tại quận 8. Những nhân tố này bao gồm chính sách pháp luật, nhận thức của doanh nghiệp và tình hình kinh tế.

2.1. Chính sách pháp luật và tác động đến doanh nghiệp

Chính sách pháp luật về BHXH có ảnh hưởng lớn đến hành vi đóng của doanh nghiệp. Các quy định rõ ràng và minh bạch sẽ khuyến khích doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình.

2.2. Nhận thức của doanh nghiệp về bảo hiểm xã hội

Nhận thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi đóng. Doanh nghiệp nào hiểu rõ lợi ích của BHXH sẽ có xu hướng tuân thủ tốt hơn.

2.3. Tình hình kinh tế và khả năng tài chính của doanh nghiệp

Tình hình kinh tế khó khăn có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đóng BHXH. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường gặp nhiều thách thức hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ này.

III. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Để phân tích các nhân tố tác động đến hành vi đóng BHXH, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng và định tính. Dữ liệu được thu thập từ các doanh nghiệp trên địa bàn quận 8.

3.1. Thiết kế mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên các giả thuyết về các nhân tố tác động đến hành vi đóng BHXH. Các biến độc lập và phụ thuộc được xác định rõ ràng.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi khảo sát gửi đến các doanh nghiệp. Phương pháp này giúp thu thập thông tin chính xác và đầy đủ về hành vi đóng BHXH.

IV. Kết quả nghiên cứu và phân tích dữ liệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt trong hành vi đóng BHXH giữa các loại hình doanh nghiệp. Phân tích hồi quy cho thấy các nhân tố tác động có mức độ ảnh hưởng khác nhau.

4.1. Thực trạng đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp

Thực trạng cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Tình trạng nợ đọng vẫn diễn ra phổ biến, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

4.2. Phân tích hồi quy và các nhân tố tác động

Phân tích hồi quy cho thấy các nhân tố như chính sách pháp luật, nhận thức của doanh nghiệp và tình hình kinh tế có tác động mạnh mẽ đến hành vi đóng BHXH.

V. Gợi ý chính sách nhằm nâng cao hành vi đóng bảo hiểm xã hội

Để nâng cao hành vi đóng BHXH của doanh nghiệp, cần có những chính sách khuyến khích và hỗ trợ. Các giải pháp cần thiết bao gồm tăng cường tuyên truyền, cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ tài chính.

5.1. Tăng cường tuyên truyền về bảo hiểm xã hội

Tuyên truyền về lợi ích của BHXH sẽ giúp doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về nghĩa vụ của mình. Các chương trình đào tạo và hội thảo có thể được tổ chức để nâng cao nhận thức.

5.2. Cải cách thủ tục hành chính liên quan đến BHXH

Cải cách thủ tục hành chính sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH. Giảm bớt thủ tục rườm rà sẽ khuyến khích doanh nghiệp tham gia.

5.3. Hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ

Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ để họ có thể thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH. Các khoản vay ưu đãi hoặc trợ cấp có thể được xem xét.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của bảo hiểm xã hội tại quận 8

Kết luận cho thấy việc nâng cao hành vi đóng BHXH của doanh nghiệp là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Triển vọng tương lai phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các bên liên quan.

6.1. Tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội trong phát triển kinh tế

BHXH không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người lao động mà còn góp phần ổn định kinh tế xã hội. Doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ sẽ tạo ra môi trường làm việc tích cực.

6.2. Hướng đi tương lai cho chính sách bảo hiểm xã hội

Cần có những chính sách linh hoạt và phù hợp với thực tế để khuyến khích doanh nghiệp tham gia BHXH. Sự thay đổi này sẽ giúp nâng cao tỷ lệ tham gia và giảm tình trạng nợ đọng.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Khái niệm về BHXH và các khái niệm khác có liên quan đến BHXH 1. Khái niệm chung về BHXH Trong cuộc sống có những rủi ro không thể lường trước được hoặc cá nhân đã chủ động dự phòng các rủi ro thì cũng không thể đáp ứng được tất cả.Vì vậy cần có một biện pháp dự phòng và khắc phục tổng thể lâu dài, hiệu quả nhất và BHXH là biện pháp phòng chống khắc phục rủi ro mang lại hiệu quả nhất đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội. Luật BHXH ( số 71/2006/QH11 ngày 29/06/2011) quy định : BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Vậy có thể hiểu BHXH là một quỹ chung mục đích để chi trả cho người lao động và thân nhân của họ trong trường hợp họ bị mất thu nhập do suy giảm khả năng lao động trên cơ sở những người lao động này cùng đóng góp vào quỹ chung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm BHXH BHXH mang tính nhân đạo, cộng đồng và nhân văn sâu sắc: BHXH là hoạt động phục vụ an sinh xã hội, mục tiêu không phải là lợi nhuận thể hiện qua các chế độ trợ cấp của BHXH nhằm bảo vệ người lao động những lúc gặp khó khăn về kinh tế, khi bị giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động. Và những lúc như thế người tham gia BHXH được chi trả một khoản kinh phí đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình nhờ nguồn quỹ BHXH. BHXH là cơ quan thuộc chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT cho người lao động và nhân dân trên phạm vi cả nước, bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, khám, chữa bệnh BHYT, BHTN. Mục đích lớn của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình yên tâm sản xuất và không phải lo lắng đến các rủi ro bất ngờ.

Đồng thời góp phần hạn chế và điều hòa mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động. Tạo môi trường làm việc ổn định, tăng năng suất và hiệu quả lao động góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Chức năng BHXH BHXH được xây dựng với nhiều chức năng, trong có có thể kể đến 3 chức năng chính là: + BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập của NLĐ; Luật BHXH quy định nếu NLĐ và NSDLĐ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp thì họ có quyền được nhận trợ cấp khi rủi ro trong phạm vi được quy định phát sinh làm giảm hoặc mất thu nhập của họ. Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi suy giảm khả năng lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và cho gia đình.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 + BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH; BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia, về nguyên tắc, để thực hiện được hình thức này NLĐ và NSDLĐ phải đóng một tỷ lệ tương quan với thu nhập của NLĐ và quỹ lương vào một quỹ chung. Và trên thực tế, chỉ có một số NLĐ gặp rủi ro và được quỹ chi trả. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập giữa những người may mắn, ít gặp rủi ro cho những người không may mắn, gặp rủi ro trong cuộc sống. Đó có thể là sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa những người khỏe mạnh với những người ốm đau, tai nạn, tàn tật; giữa những người có cơ may về việc làm cho những người không may bị thất nghiệp; có thể là sự phân phối lại theo chiều dọc giữa những người trẻ với những người già.

Như vậy, thu nhập của NLĐ được phân phối lại theo nhiều chiều, trên cả bình diện không gian và thời gian, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. + BHXH thúc đẩy gắn bó lợi ích giữa NLĐ với NSDLĐ, góp phần kích thích NLĐ hăng hái sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội; Trên thực tế NLĐ và NSDLĐ vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công và thời gian lao động. Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa, giải quyết. Nhờ đó mà hai bên hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau hơn.

Nhờ có BHXH NLĐ yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, nơi làm việc. Từ đó, tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích NLĐ nâng cao năng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sơ lược về Quỹ BHXH + Khái niệm: Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của nhà nước. Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu khác, sử dụng để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ và chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước. Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao, và là điều kiện, cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. + Đặc trưng Quỹ BHXH Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng sau: - Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính: Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH.

Chức năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH nước ta quy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”. - Tính tích luỹ: Quỹ BHXH là “của để dành” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già. và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động.

- Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả. Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn được hưởng một khoản trợ cấp như nhau.

Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế độ ốm đau), thậm chí không được hưởng (chế độ thai sản). Hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ) 1. Khái niệm chung về hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ) Đứng trên gốc độ của cơ quan BHXH, hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ) có thể có 2 hành vi sau: hành vi đóng BHXH đúng quy định và không đúng quy định. Hành vi đóng BHXH đúng quy định được căn cứ theo Điều 18 và Điều 92 của Luật BHXH quy định: hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm trích tiền lương, tiền công của người lao động đóng góp vào quỹ BHXH.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Những hành vi được quy định tại Điều 26, 27, 28 Chương III Nghị định số 95/2013/NĐ-CP được xem là hành vi đóng BHXH không đúng quy định, đối với trường hợp DN (NSDLĐ) có một trong các hành vi sau: - Thỏa thuận với NLĐ không tham gia BHXH bắt buộc, BHTN: DN (NSDLĐ) ký hợp đồng với NLĐ dưới 3 tháng để không phải đóng BHXH cho NLĐ, hoặc có thể do NLĐ yêu cầu để được nhận trọn lương và không phải trích nộp cho BHXH. - Chậm đóng BHXH bắt buộc, BHTN: là hành vi đến thời hạn đóng BHXH nhưng DN (NSDLĐ) chưa chuyển tiền cho cơ quan BHXH ; - Đóng BHXH bắt buộc, BHTN không đúng mức quy định: DN (NSDLĐ) có trách nhiệm đóng BHXH theo tỷ lệ dựa trên tiền lương, tiền công trả cho NLĐ. Để giảm số tiền phải đóng, DN (NSDLĐ) thường khai báo mức tiền lương, tiền công trả cho NLĐ thấp hơn tiền lương thực tế trả. - Đóng BHXH, BHTN không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, BHTN: Để giảm số tiền phải đóng BHXH, BHTN, DN (NSDLĐ) không khai báo và trốn đóng BHXH cho những người lao động làm việc theo các hợp đồng ngắn hạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ