Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đóng vai trò là đòn bẩy then chốt thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Việt Nam, nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng đô thị gia tăng mạnh mẽ qua từng thời kỳ, tạo ra áp lực tài chính rất lớn lên ngân sách nhà nước. Nhằm tạo dựng một định chế tài chính chuyên trách giúp chính quyền địa phương chủ động huy động nguồn lực xã hội và hợp tác với khu vực tư nhân, Quỹ Đầu tư phát triển (ĐTPT) đô thị TP. Hồ Chí Minh đã được thành lập thí điểm vào năm 1997. Sau 14 năm triển khai và nhân rộng, tính đến tháng 8/2011, cả nước đã có 27 Quỹ ĐTPT địa phương được thành lập tại 27 tỉnh, thành phố, chiếm tỷ lệ 42% tổng số địa phương trên toàn quốc.

Tổng nguồn vốn hoạt động của toàn hệ thống các quỹ đã tăng trưởng vượt bậc, đạt xấp xỉ 14.182 tỷ đồng vào năm 2011, gấp hơn 19 lần so với quy mô 698 tỷ đồng ở mốc năm 2000. Dù đạt được nhiều thành quả tích cực, sự phát triển giữa các quỹ vẫn tồn tại sự chênh lệch lớn về quy mô vốn, năng lực quản trị rủi ro và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính dài hạn. Nghiên cứu này tập trung phân tích toàn diện thực trạng vận hành của các Quỹ ĐTPT địa phương giai đoạn 1997 - 2011, đồng thời xác lập hệ thống giải pháp tài chính mang tính chiến lược đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao tỷ lệ giải ngân dự án, tối ưu hóa năng lực tự chủ tài chính và hướng tới chuẩn mực thu hồi vốn bền vững trên 96% theo kinh nghiệm của các định chế phát triển quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết về định chế tài chính phi ngân hàng, đóng vai trò cầu nối trung gian dẫn truyền các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào các dự án hạ tầng trung và dài hạn. Bên cạnh đó, lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư và phân tán rủi ro được vận dụng để làm rõ cơ chế giảm thiểu tổn thất tài chính khi triển khai các công trình có vòng đời thu hồi vốn kéo dài. Đồng thời, mô hình hợp tác công - tư (PPP) cung cấp luận cứ về việc sử dụng vốn nhà nước làm nguồn vốn mồi để thu hút dòng vốn tư nhân cùng tham gia kiến tạo hạ tầng đô thị.

Các khái niệm trọng tâm bao gồm: Quỹ đầu tư phát triển địa phương theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007, Quỹ đầu tư dạng đóng, Quỹ đầu tư dạng mở, hoạt động cấp tín dụng đầu tư, đầu tư trực tiếp và quản lý vốn ủy thác. Hoạt động của quỹ được định vị theo nguyên tắc tự chủ tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thương mại thuần túy mà chú trọng dung hòa giữa hiệu quả kinh tế - xã hội và tỷ suất sinh lời tài chính (ROA, ROE). Về mặt kiểm soát an toàn, quy định pháp lý ràng buộc mức vốn điều lệ tối thiểu tại thời điểm thành lập là 100 tỷ đồng, cùng giới hạn tổng mức vốn huy động tối đa không vượt quá 6 lần vốn chủ sở hữu của quỹ tại cùng thời điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) với cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 27 Quỹ ĐTPT địa phương đã thành lập trên phạm vi toàn quốc tính đến năm 2011. Cỡ mẫu này đại diện đầy đủ cho 3 vùng kinh tế trọng điểm, bao gồm 12 quỹ tại khu vực miền Nam, 8 quỹ tại miền Trung và 7 quỹ tại miền Bắc. Mẫu nghiên cứu được phân tầng thành 3 nhóm quy mô: Nhóm 1 gồm 6 quỹ có nguồn vốn hoạt động lớn nhất, Nhóm 2 gồm 8 quỹ có nguồn vốn trên 150 tỷ đồng, và Nhóm 3 gồm 13 quỹ có quy mô nhỏ dưới 150 tỷ đồng.

Nguồn dữ liệu thứ cấp định lượng được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Vụ Tài chính ngân hàng - Bộ Tài chính, kết hợp báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) giai đoạn 1997 - 2011. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian (time-series analysis), phân tích so sánh cơ cấu vốn và phương pháp duy vật biện chứng. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này xuất phát từ nhu cầu đo lường chính xác tác động của mốc thể chế Nghị định 138/2007/NĐ-CP lên tốc độ tăng trưởng vốn, sự chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu - vốn vay và hiệu suất giải ngân dự án thực tế qua hai giai đoạn 1997 - 2006 và 2007 - 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn vốn hoạt động tăng trưởng ấn tượng nhưng có sự tập trung bất đối xứng sâu sắc giữa các địa phương. Giai đoạn 1997 - 2011 ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân vốn hoạt động toàn hệ thống đạt 38%/năm. Tổng vốn hoạt động đạt 14.182 tỷ đồng vào năm 2011, trong đó vốn điều lệ đạt 7.391 tỷ đồng (tăng gấp 10 lần so với mức 541 tỷ đồng năm 2000). Tuy nhiên, 6 Quỹ lớn thuộc Nhóm 1 (TP.HCM, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Đà Nẵng) đã chiếm tới 11.344 tỷ đồng, tương đương 80% tổng nguồn vốn hoạt động toàn quốc. Ngược lại, 13 Quỹ thuộc Nhóm 3 chỉ chiếm hơn 8% tổng vốn, với 6 địa phương chưa đáp ứng đủ mức vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng (Hải Dương đạt 17 tỷ đồng, Hải Phòng 27 tỷ đồng, Kon Tum 31 tỷ đồng, Ninh Bình 40 tỷ đồng, Hà Giang 40 tỷ đồng, Tây Ninh 60 tỷ đồng).

Thứ hai, cơ cấu vốn huy động có sự chuyển dịch mang tính đột phá sau khi ban hành khung pháp lý chuẩn hóa. Trong giai đoạn 1997 - 2006, tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với vốn huy động duy trì ở mức 70:30 (tỷ trọng vốn huy động bình quân chỉ đạt 38%). Giai đoạn 2007 - 2011, tỷ lệ này đã cân bằng ở mức 50:50, đưa tổng vốn huy động năm 2011 lên mức 6.791 tỷ đồng (chiếm 47,8% tổng vốn hoạt động). Đáng chú ý, cơ cấu vốn huy động năm 2011 chuyển dịch mạnh sang nguồn vốn nước ngoài dài hạn với 4.482 tỷ đồng (chiếm 66% tổng vốn huy động), chủ yếu đến từ các khoản vay lại ODA của WB, ADB và AFD, trong khi vay trong nước chỉ chiếm 7% (475 tỷ đồng) và hợp vốn cho vay chiếm 12% (815 tỷ đồng).

Thứ ba, hoạt động sử dụng vốn mở rộng theo chiều sâu với danh mục cho vay giữ vai trò chủ đạo, kết hợp sự bứt phá của đầu tư trực tiếp. Lũy kế giai đoạn 1997 - 2011, các quỹ đã giải ngân cho vay 5.337 dự án với tổng doanh số đạt 40.985 tỷ đồng. Riêng giai đoạn 2007 - 2011, doanh số cho vay đạt 28.532 tỷ đồng, chiếm hơn 65% tổng giá trị cho vay của cả 14 năm. Hoạt động đầu tư trực tiếp tăng trưởng vượt bậc từ mức trung bình 57 tỷ đồng/năm (1997 - 2006) lên 1.428 tỷ đồng/năm (2007 - 2011), đạt 2.377 tỷ đồng vào năm 2011 với các dự án tiêu biểu như BOT Cầu Phú Mỹ, Nhà máy nước Thủ Đức (TP.HCM), Khu tái định cư Phú Hòa (Bình Dương). Hoạt động đầu tư trên thị trường vốn cũng đạt 1.973 tỷ đồng vào năm 2011, tập trung chủ yếu tại Quỹ TP.HCM qua định chế Chứng khoán TP.HCM (HSC) và Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM (CII).

Thảo luận kết quả

Sự tăng trưởng vượt bậc của hệ thống quỹ trong giai đoạn sau năm 2007 khẳng định tính hiệu quả của Nghị định 138/2007/NĐ-CP trong việc tạo lập cơ chế tự chủ tài chính và quy chuẩn hóa hoạt động nghiệp vụ. Sự dịch chuyển từ cho vay thuần túy sang đầu tư trực tiếp và hợp tác công - tư đã nâng cao năng lực quay vòng vốn và giải phóng áp lực đầu tư công. Tuy nhiên, sự phân hóa vùng miền xuất phát từ rào cản tổ chức bộ máy: tính đến năm 2011, mới chỉ có 12/27 quỹ vận hành thực sự độc lập, 5 quỹ vẫn hoạt động theo mô hình kiêm nhiệm và 9 quỹ độc lập hình thức khi phụ thuộc hoàn toàn vào nhân sự của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển tại địa phương.

So sánh với các mô hình quốc tế, Quỹ phát triển đô thị Tamil Nadu (TNUDF) của Ấn Độ đã thành công khi duy trì cấu trúc sở hữu công - tư (49% vốn nhà nước, 51% vốn tổ chức tài chính tư nhân), tài trợ cho 181 dự án trị giá 151 triệu USD với tỷ lệ thu hồi nợ trên 96%. Mô hình các công ty Tín thác và Đầu tư (TIC) của Trung Quốc cũng khẳng định vai trò cầu nối phát hành trái phiếu quốc tế để tài trợ hạ tầng. Tại Việt Nam, việc thiếu công cụ phát hành trái phiếu chung cho các địa phương nhỏ và sự hạn chế trong cơ chế thoát vốn dự án BOT, BT đã kìm hãm tiềm năng của các quỹ Nhóm 2 và Nhóm 3.

Để tối ưu hóa công tác giám sát, các chuỗi số liệu về cơ cấu vốn hoạt động 3 miền và tương quan giữa vốn điều lệ với doanh số giải ngân cho vay hạ tầng có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ phân tán kết hợp đồ thị cột chồng nhiều tầng, giúp các cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện điểm nghẽn thanh khoản theo từng quý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn dài hạn và mở rộng kênh tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Ban Giám đốc các Quỹ ĐTPT địa phương cần chủ động xây dựng tiêu chuẩn quản trị rủi ro tín dụng và môi trường để tiếp nhận nguồn vốn ODA ưu đãi từ các dự án của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á. Đồng thời, các quỹ thuộc Nhóm 1 cần xúc tiến phương án ủy thác phát hành trái phiếu công trình và trái phiếu chính quyền địa phương, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng vốn huy động đạt 60% tổng nguồn vốn hoạt động vào cuối năm 2015.

Thứ hai, phát huy vai trò "vốn mồi" và đẩy mạnh đầu tư trực tiếp theo phương thức hợp tác công - tư (PPP). Hội đồng quản lý các quỹ cần phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành để lựa chọn các dự án hạ tầng kỹ thuật đô thị trọng điểm có khả năng thu hồi vốn trực tiếp (cấp thoát nước, giao thông thu phí, hạ tầng khu công nghiệp). Các quỹ cần tăng cường hợp vốn với các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp tư nhân, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đầu tư trực tiếp và tài trợ PPP lên mức 25% - 30% tổng danh mục sử dụng vốn trong giai đoạn 2012 - 2014.

Thứ ba, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy và chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại 5 địa phương còn áp dụng mô hình kiêm nhiệm (Bình Định, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình, Bình Phước) cần khẩn trương phê duyệt đề án chuyển đổi sang mô hình hoạt động độc lập hoàn toàn trước năm 2013. Các quỹ cần triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu về thẩm định dự án, quản lý tài chính và đạo đức nghề nghiệp, đảm bảo 100% cán bộ nghiệp vụ chủ chốt đạt trình độ từ đại học trở lên thuộc khối ngành kinh tế - tài chính.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý về quản lý rủi ro và cơ chế thoát vốn linh hoạt. Chính phủ và Bộ Tài chính cần ban hành quy chế sửa đổi Nghị định 138/2007/NĐ-CP, bổ sung hướng dẫn chi tiết về trích lập dự phòng rủi ro cho vay đầu tư, cơ chế chuyển nhượng dự án BOT, BT và quy trình thoái vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán. Mục tiêu xuyên suốt là duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2% và hoàn thành việc bổ sung vốn điều lệ tối thiểu trên 100 tỷ đồng cho 100% các quỹ trên toàn quốc trước năm 2014.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Hội đồng nhân dân và UBND cấp tỉnh): Cung cấp cứ liệu thực chứng từ 27 quỹ địa phương để làm căn cứ hoạch định chính sách, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và phân bổ hạn ngạch ngân sách cấp bổ sung vốn điều lệ.
  2. Ban lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ tại các Quỹ ĐTPT địa phương: Ứng dụng mô hình phân bổ danh mục đầu tư, quy trình thẩm định rủi ro tín dụng và kinh nghiệm thực tiễn từ các quỹ dẫn đầu (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai) vào hoạt động cho vay và đầu tư trực tiếp.
  3. Các định chế tài chính, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đầu tư hạ tầng: Khai thác cơ hội hợp tác đồng tài trợ (hợp vốn), tham gia đấu thầu các dự án PPP và liên kết thành lập doanh nghiệp dự án hạ tầng kỹ thuật.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian 14 năm (1997 - 2011) và khung phân tích định chế tài chính phi ngân hàng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương khác biệt như thế nào so với Ngân hàng thương mại?

Quỹ ĐTPT địa phương là định chế tài chính nhà nước hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà thực hiện mục tiêu chính sách phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Quỹ tập trung cấp vốn trung và dài hạn cho các công trình hạ tầng công cộng và đóng vai trò vốn mồi để thu hút vốn tư nhân, tuân thủ giới hạn huy động vốn tối đa 6 lần vốn chủ sở hữu theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP.

2. Khung pháp lý nào đang điều chỉnh trực tiếp tổ chức và hoạt động của các Quỹ ĐTPT địa phương?

Hoạt động của các quỹ được điều chỉnh trực tiếp bởi Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của Chính phủ, kết hợp với các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính về điều lệ mẫu và quy chế quản lý tài chính. Ngoài ra, các hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp và huy động vốn phải tuân thủ Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Doanh nghiệp.

3. Tại sao các Quỹ ĐTPT địa phương bắt buộc phải chuyển đổi sang mô hình hoạt động độc lập?

Mô hình hoạt động độc lập giúp quỹ thiết lập bộ máy chuyên trách, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với điều hành tác nghiệp tài chính. Thực tế 14 năm cho thấy 12 quỹ độc lập thực chất vận hành hiệu quả hơn hẳn 5 quỹ kiêm nhiệm, giúp nâng cao năng lực thẩm định dự án, chủ động giải ngân nguồn vốn 14.182 tỷ đồng và giảm thiểu rủi ro xung đột lợi ích.

4. Cơ cấu nguồn vốn tối ưu cho hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương được xác định ra sao?

Cơ cấu nguồn vốn tối ưu cần duy trì tỷ lệ cân bằng giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động ở mức 50:50. Vốn điều lệ phải đạt tối thiểu từ 100 tỷ đồng trở lên, trong khi vốn huy động cần đa dạng hóa từ nguồn vay ODA quốc tế (chiếm khoảng 60% - 66% danh mục nợ) và hợp vốn ngân hàng để đảm bảo thanh khoản an toàn.

5. Bài học quốc tế nổi bật nào có thể ứng dụng hiệu quả cho hệ thống Quỹ ĐTPT tại Việt Nam?

Bài học nổi bật nhất là mô hình Quỹ TNUDF của Ấn Độ với cấu trúc liên kết công - tư (49% vốn nhà nước, 51% vốn tư nhân), đạt tỷ lệ thu hồi nợ trên 96% qua 181 dự án. Việt Nam có thể ứng dụng cơ chế phát hành trái phiếu chung cho các quỹ quy mô nhỏ và thiết lập công cụ tín dụng liên kết để tài trợ dự án hạ tầng liên vùng.

Kết luận

  • Hệ thống Quỹ ĐTPT địa phương đã khẳng định vị thế định chế tài chính công đắc lực sau 14 năm (1997 - 2011), mở rộng quy mô lên 27 quỹ với tổng nguồn vốn hoạt động đạt 14.182 tỷ đồng.
  • Hoạt động tín dụng đầu tư đóng vai trò nòng cốt với 5.337 dự án được tài trợ, tạo ra doanh số cho vay lũy kế 40.985 tỷ đồng phục vụ đắc lực cho mạng lưới hạ tầng đô thị cả nước.
  • Báo cáo đã chỉ rõ điểm nghẽn về sự phân hóa nguồn lực khi 80% tổng vốn tập trung tại 6 quỹ Nhóm 1, đồng thời vẫn còn 5 địa phương duy trì mô hình kiêm nhiệm và 6 quỹ chưa đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng.
  • Đúc kết thành công các bài học kinh nghiệm quốc tế từ quỹ đô thị TNUDF (Ấn Độ) và hệ thống TIC (Trung Quốc) để áp dụng linh hoạt vào môi trường thể chế tài chính Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về đa dạng hóa nguồn vốn ODA/trái phiếu, mở rộng đầu tư PPP, hoàn thiện cơ chế độc lập bộ máy và chuẩn hóa khung pháp lý xử lý rủi ro đến năm 2015.

Lộ trình triển khai tiếp theo đòi hỏi các địa phương khẩn trương hoàn thành việc bổ sung đủ vốn điều lệ và số hóa quy trình thẩm định rủi ro trong giai đoạn 2012 - 2015. Các cơ quan quản lý, nhà đầu tư hạ tầng và chuyên gia tài chính có thể khai thác toàn văn luận văn để xây dựng các giải pháp tối ưu hóa dòng vốn phát triển đô thị.