Tổng quan nghiên cứu

Báo cáo từ Ngân hàng Thế giới cho thấy tỷ lệ tái nghèo tại Việt Nam duy trì ở mức khoảng 2%, phản ánh thách thức lớn trong việc duy trì thành quả an sinh xã hội. Tại tỉnh Đồng Tháp, khu vực có 82,73% dân cư sinh sống ở vùng nông thôn và 73,59% lực lượng lao động nông nghiệp, công tác giảm nghèo luôn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm khi toàn tỉnh ghi nhận 17.266 hộ nghèo (chiếm 4,04%) cùng 23.164 hộ cận nghèo (chiếm 5,48%). Đáng chú ý, tại huyện Lai Vung với quy mô dân số 161.576 người và mật độ 678 người/km², tỷ lệ hộ nghèo sau giai đoạn giảm xuống 6,50% vào năm 2014 đã bất ngờ tăng trở lại mức 8,93% vào năm 2015, tương ứng mức gia tăng 2,43%.

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cấp bách phải nhận diện rõ ràng các nguyên nhân cốt lõi khiến người dân rơi trở lại bẫy nghèo. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển của tác giả Nguyễn Thị Thúy An tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh tập trung giải quyết 3 mục tiêu cụ thể: đánh giá thực trạng tái nghèo, xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố vi mô đến xác suất tái nghèo, từ đó gợi ý hệ thống chính sách can thiệp khả thi. Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 12 xã và thị trấn của huyện Lai Vung trong giai đoạn 2016-2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thiết thực khi cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa nguồn lực hỗ trợ, giảm thiểu nguy cơ tái nghèo từ mức 59,5% trong nhóm từng thoát nghèo xuống dưới ngưỡng mục tiêu an sinh bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của Chambers và Conway (1991) kết hợp cùng Lý thuyết vòng lẩn quẩn của nghèo đói (Vicious Circle of Poverty). Khung sinh kế bền vững phân tích 5 nguồn vốn cốt lõi bảo đảm đời sống nông hộ: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành gồm Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 (quy định mức thu nhập nông thôn dưới 700.000 đồng/người/tháng hoặc thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản) và Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ tái nghèo. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 9 biến số độc lập tác động đến xác suất tái nghèo: việc làm của chủ hộ, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, số người phụ thuộc, độ tuổi chủ hộ, diện tích đất sản xuất bình quân, vốn vay tín dụng và mức hỗ trợ từ Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi từ tháng 4/2017 đến tháng 10/2017 tại 11 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Lai Vung. Quy mô mẫu được xác định dựa trên công thức của Tabachnick và Fidell (1996) với N = 50 + 8*9 = 122 quan sát lý thuyết. Nhằm hạn chế sai số và gia tăng tính đại diện, tác giả đã mở rộng mẫu điều tra lên 220 hộ gia đình từng thuộc diện nghèo theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện từ danh sách của Chi cục Thống kê huyện Lai Vung.

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi quy Binary Logistic trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy Binary Logistic bắt nguồn từ bản chất của biến phụ thuộc mang tính chất nhị phân nhận hai giá trị (1 là hộ bị tái nghèo, 0 là hộ không bị tái nghèo). Mô hình cho phép ước lượng chuẩn xác tỷ số chênh (Odds Ratio) và xác định mức độ ảnh hưởng biên của từng yếu tố kinh tế - xã hội đến xác suất tái nghèo của hộ gia đình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích tần số cho thấy trong tổng số 220 hộ điều tra, tỷ lệ tái nghèo ở mức rất cao với 59,5% (tương ứng 131 hộ) và chỉ có 40,5% (89 hộ) duy trì được trạng thái thoát nghèo. Về cơ cấu việc làm, có tới 80,5% (177 hộ) làm việc thuần túy trong lĩnh vực nông nghiệp, trong khi tỷ lệ hộ có việc làm phi nông nghiệp chỉ chiếm khiêm tốn 19,5% (43 hộ).

Thứ hai, về nhân khẩu học và học vấn, chủ hộ là nam giới chiếm đa số với 83,2% (183 người) so với nữ giới chiếm 16,8% (37 người). Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 40,20 tuổi (dao động từ 20 đến 71 tuổi). Đáng chú ý, hơn 90% chủ hộ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống, trong đó THCS chiếm 46,4% (102 người), THPT chiếm 45,5% (100 người), tiểu học trở xuống chiếm 3,2% (7 người) và chỉ có 5,0% (11 người) đạt trình độ từ trung cấp trở lên. Quy mô hộ trung bình là 2,20 người với số người phụ thuộc bình quân là 1,10 người/hộ (tối đa lên đến 4 người phụ thuộc).

Thứ ba, về tư liệu sản xuất và tài chính, diện tích đất canh tác bình quân đạt 2.736,82 m²/hộ (dao động từ 0 đến 10.000 m²). Mức vay tín dụng bình quân là 31,35 triệu đồng/hộ (từ 20 đến 50 triệu đồng). Lượng tiền trợ cấp nhà nước bình quân đạt 580.454,55 đồng/hộ/năm. Đánh giá rào cản sản xuất ghi nhận thiên tai, dịch bệnh là khó khăn lớn nhất (13,7% trong trồng trọt và 12,1% trong chăn nuôi), theo sau là giá cả đầu ra bấp bênh (13,0% trong trồng trọt và 11,6% trong chăn nuôi) cùng tình trạng thiếu vốn (11,4% và 9,9%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tỷ lệ tái nghèo 59,5% là do sinh kế của người dân gắn chặt với canh tác nông nghiệp tự phát, thiếu tư liệu sản xuất và đất đai màu mỡ. Khi gặp các cú sốc về dịch bệnh hoặc giá nông sản sụt giảm, hộ gia đình không có nguồn tích lũy dự phòng và rơi ngay vào tình trạng mất thu nhập. Hơn nữa, học vấn thấp (hơn 90% dưới bậc trung cấp) tạo thành rào cản lớn trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển dịch sang các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ có thu nhập cao hơn.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với nghiên cứu của Trần Kỳ Việt (2009) tại An Giang và Huỳnh Nhật Trường (2011) tại Cần Giờ khi khẳng định nghề nghiệp và học vấn là hai trụ cột định hình ngưỡng nghèo. Phát hiện về số người phụ thuộc bình quân 1,10 người cũng củng cố luận điểm của Võ Tất Thắng (2004) tại Ninh Thuận về gánh nặng chi tiêu y tế, giáo dục làm suy giảm năng lực tích lũy tài chính. Các phát hiện định lượng trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng thống kê mô tả 9 biến số, biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ tái nghèo theo phân khúc nghề nghiệp và biểu đồ cột so sánh các nhóm khó khăn trong chuỗi giá trị trồng trọt - chăn nuôi để phục vụ công tác giám sát tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đẩy mạnh đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động: UBND huyện Lai Vung cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần chủ động liên kết với các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp lân cận mở các lớp dạy nghề ngắn hạn (may mặc, cơ khí, chế biến nông sản), phấn đấu nâng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của các hộ nghèo từ 19,5% hiện tại lên tối thiểu 35% trong giai đoạn 2020-2025.

  2. Nâng hạn mức và nới lỏng thời hạn hoàn vốn tín dụng chính sách: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Lai Vung cần xem xét nâng hạn mức cho vay ưu đãi từ mức bình quân 31,35 triệu đồng lên 50-80 triệu đồng/hộ, đồng thời kéo dài chu kỳ vay từ 36 tháng lên 60 tháng để hộ dân đủ tiềm lực đầu tư thâm canh các loại cây ăn trái đặc sản có giá trị kinh tế cao như quýt hồng, quýt đường.

  3. Thiết lập mạng lưới bảo hiểm nông nghiệp và chuỗi liên kết bao tiêu: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện cần phối hợp cùng các hợp tác xã nông nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định, đồng thời triển khai quỹ dự phòng hỗ trợ rủi ro thiên tai nhằm kéo giảm mức độ thiệt hại do dịch bệnh từ 13,7% xuống dưới 5% mỗi năm.

  4. Đổi mới phương thức trợ cấp xã hội gắn với điều kiện sinh kế: UBND 12 xã và thị trấn cần chuyển dịch cơ chế hỗ trợ thụ động bằng tiền mặt (bình quân 580.454,55 đồng/hộ/năm) sang hình thức trợ cấp có điều kiện, gắn liền với việc tham gia các lớp khuyến nông và cam kết duy trì việc làm, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ tái nghèo toàn huyện xuống dưới 1,5% hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách an sinh xã hội: Lãnh đạo UBND cấp huyện, xã và cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng đề án giảm nghèo đa chiều bền vững, phân bổ ngân sách trúng đối tượng tại 12 xã và thị trấn.

  2. Cán bộ tín dụng và các tổ chức tài chính vi mô: Nhân viên Ngân hàng Chính sách Xã hội và các quỹ tín dụng nhân dân tham khảo dữ liệu về mức vay bình quân 31,35 triệu đồng và cơ cấu rủi ro để thiết kế các gói sản phẩm vay vốn linh hoạt, hạn chế nguy cơ phát sinh nợ quá hạn.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế: Các nhà khoa học khai thác mô hình hồi quy Binary Logistic, phương pháp chọn mẫu phân tầng 220 quan sát và khung lý thuyết sinh kế chuẩn mực làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu thực nghiệm.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và hiệp hội phát triển nông thôn: Các điều phối viên dự án quốc tế ứng dụng dữ liệu phân tích về rào cản dịch bệnh (13,7%) và biến động giá cả (13,0%) để xây dựng các chương trình tài trợ sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tái nghèo tại huyện Lai Vung trong mẫu nghiên cứu là bao nhiêu và có đặc điểm gì nổi bật? Kết quả khảo sát trên 220 hộ từng thoát nghèo cho thấy tỷ lệ tái nghèo chiếm tới 59,5% (131 hộ). Điểm nổi bật là nhóm hộ bị tái nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực thuần nông với 80,5% làm nông nghiệp, sở hữu diện tích đất canh tác hạn hẹp và thu nhập bấp bênh trước các biến động kinh tế.

Trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng như thế nào đến khả năng thoát nghèo bền vững? Hơn 90% chủ hộ điều tra có trình độ văn hóa từ trung học phổ thông trở xuống, trong đó bậc THCS chiếm 46,4%. Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, khiến năng suất lao động giảm sút và thu hẹp cơ hội tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp có thu nhập cao.

Khó khăn lớn nhất của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương là gì? Hai rào cản nghiêm trọng nhất được ghi nhận là rủi ro thiên tai, dịch bệnh (chiếm 13,7% trong trồng trọt và 12,1% trong chăn nuôi) cùng tình trạng giá cả đầu ra không ổn định (chiếm 13,0% và 11,6%). Những cú sốc này trực tiếp triệt tiêu nguồn vốn tích lũy của hộ dân.

Nguồn vốn vay tín dụng hiện nay đã đáp ứng đủ nhu cầu sinh kế của các hộ dân hay chưa? Mức vay tín dụng bình quân đạt 31,35 triệu đồng/hộ (dao động từ 20 đến 50 triệu đồng). Dù đã hỗ trợ trang trải chi phí phân bón và cây giống ban đầu, quy mô vốn này vẫn chưa đủ để người dân đầu tư công nghệ cao hoặc mở rộng trang trại nhằm thoát nghèo triệt để.

Vì sao cần chuyển đổi từ hình thức trợ cấp tiền mặt trực tiếp sang trợ cấp có điều kiện? Khoản hỗ trợ bình quân 580.454,55 đồng/hộ/năm bằng tiền mặt dễ phát sinh tâm lý ỷ lại nếu thiếu kiểm soát. Việc chuyển sang hỗ trợ có điều kiện gắn với đào tạo nghề và đưa con em đến trường sẽ khơi dậy ý chí tự lực vươn lên, tạo nền tảng thoát nghèo lâu dài.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định rõ nét thực trạng tái nghèo chiếm tỷ lệ 59,5% trên tổng số 220 hộ điều tra tại địa bàn huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
  • Bằng chứng thực nghiệm khẳng định cơ cấu lao động thuần nông chiếm 80,5% và trình độ học vấn thấp với hơn 90% dưới bậc trung cấp là hai nguyên nhân vi mô hàng đầu gây tái nghèo.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các rào cản sản xuất lớn nhất gồm thiệt hại do dịch bệnh (13,7%) và biến động giá nông sản thị trường (13,0%).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ về đào tạo nghề, mở rộng hạn mức tín dụng trên 50 triệu đồng và thiết lập chuỗi bao tiêu nông sản.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu sơ cấp thực chứng và mô hình định lượng Binary Logistic đáng tin cậy phục vụ công tác xây dựng chính sách an sinh giai đoạn 2020-2025.

Để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững, chính quyền huyện Lai Vung cần khẩn trương cụ thể hóa các giải pháp trong vòng 6 tháng tới thông qua các chương trình hành động liên ngành. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy tham khảo ngay toàn văn luận văn Thạc sĩ để khai thác chi tiết các mô hình ước lượng và khuyến nghị chính sách hữu ích!