Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu một số khái niệm cơ bản về thỏa mãn công việc và gắn kết với tổ chức, một số lý thuyết về thỏa mãn công việc, một số nghiên cứu cùng lĩnh vực, xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến sự gắn kết của ngƣời lao động với tổ chức tại công ty Đƣờng Biên Hòa. Chương 2: Tổng quan công ty cổ phần Đường Biên Hòa Giới thiệu chung về công ty Đƣờng Biên Hòa, về lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ, một số chính sách nhân sự của công ty. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nêu quy trình thực hiện nghiên cứu, thiết kế mã hóa thang đo, các phƣơng pháp phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày thông tin mẫu nghiên cứu, các kết quả phân tích từ phần mềm SPSS.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Dựa trên kết quả phân tích đƣa ra kiến nghị cho lãnh đạo công ty về chính sách cho ngƣời lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chƣơng này trình bày một số khái niệm và lý thuyết về thỏa mãn công việc và gắn kết với tổ chức, giới thiệu các nghiên cứu trƣớc đây. Giới thiệu mô hình nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình. Lý thuyết về thỏa mãn công việc và gắn kết với tổ chức 1.
Khái niệm về thỏa mãn công việc và gắn kết tổ chức Có nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn công việc theo James L Price (1997) thì sự thỏa mãn công việc đƣợc định nghĩa là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hƣớng tích cực đối với việc làm trong tổ chức. Theo Schermerhorn, Hunt and Osborn (1997) thì Sự thỏa mãn với công việc đƣợc định nghĩa nhƣ là những tình cảm theo chiều hƣớng tích cực mà nhân viên hƣớng đến công việc họ đang làm. Theo spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc ngƣời ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ nhƣ thế nào. Còn theo Ellickson và Logsdon (2001) thì sự thỏa mãn công việc là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hay môi trƣờng làm việc của họ.
Schermerhorn (1993), Kreitner và Kinicki (2007) định nghĩa sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc nhƣ: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thƣởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trƣờng làm việc, cũng nhƣ cơ cấu tổ chức. Nhƣ vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc của nhân viên, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, sự lý giải riêng thông qua các công trình nghiên cứu của mình, nhƣng nhìn chung theo tác giả thỏa mãn công việc là yêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thích công việc họ đang làm, hài lòng với những ích lợi mà công việc mang lại cho họ, làm cho họ có động lực làm việc và muốn gắn bó với công việc. Định nghĩa về gắn kết tổ chức. Theo Northcraft and Neale (1996) thì sự gắn kết là biểu hiện của cá nhân với tổ chức thể hiện lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức.
Còn theo Mowday và Steers (1979) thì sự gắn kết với tổ chức nhƣ là một sự kiên định mạnh mẽ (nhất quán hay bất di bất dịch) của một cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể. Theo Meyer và Allen (1990) thì sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là một trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân với tổ chức, liên hệ mật thiết đến quyết định có tiếp tục là thành viên của tổ chức hay không. Khái niệm của Meyer và Allen đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới, đƣợc nhiều nhà nghiên cứu áp dụng. Nhƣ vậy có nhiều khái niệm về sự gắn kết của ngƣời lao động với tổ chức, chúng ta có thể tóm tắt lại nhƣ sau: gắn kết của ngƣời lao động với tổ chức đó là mong muốn tiếp tục là thành viên của tổ chức, sẳn sàng nổ lực cống hiến vì sự phát triển của tổ chức.
Một số lý thuyết về thỏa mãn công việc 1. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Abraham Maslow cho rằng hành vi của con ngƣời bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con ngƣời đƣợc sắp xếp theo một thứ tự ƣu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng cấp bậc nhu cầu đƣợc sắp xếp thành năm bậc nhƣ sau: 1. Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con ngƣời tồn tại nhƣ: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác.
Nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu nhƣ an toàn, không bị đe doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ… 3. Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, đƣợc chấp nhận, bạn bè, xã hội… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng ngƣời khác, đƣợc ngƣời khác tôn trọng, địa vị… 5. Nhu cầu tự thể hiện là các nhu cầu nhƣ chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hƣớc… Nhu cầu Tự thể hiện Nhu cầu tự trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: http://www.info/2011/11/thuyet-nhu-cau-cua- maslow.html ) Abraham Maslow chia nhu cầu của con ngƣời làm hai nhóm chính là nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs).
Nhu cầu cơ bản gồm có nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn. Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con ngƣời nhƣ mong muốn có đủ thức ăn, nƣớc uống, trú ngụ, đƣợc ngủ nghỉ, cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con ngƣời không đƣợc đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại đƣợc nên họ sẽ đấu tranh để có đƣợc và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Nhu cầu bậc cao gồm có nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. Những nhu cầu này bao gồm những yếu tố liên quan đến tinh thần nhƣ: sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, đƣợc quý trọng kính mến, đƣợc tin tƣởng, đƣợc thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, đƣợc công nhận thành đạt.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các nhu cầu cơ bản thƣờng đƣợc ƣu tiên chú ý trƣớc so với những nhu cầu bậc cao. Do đó nhà quản lý cần biết nhu cầu của nhân viên mình đang ở cấp bậc nào để có chính sách khuyến khích, động viên họ nhằm đáp ứng nhu cầu cho họ. Thuyết nhu cầu của Maslow ứng dụng trong nghiên cứu này thể hiện đƣợc biểu hiện thông qua các biến khác nhau. Đó là nhu cầu về sinh học và nhu cầu an toàn nhƣ ăn uống, sinh hoạt ….thể hiện qua các biến độc lập là thu nhập và phúc lợi của ngƣời lao động.
Khi ngƣời lao động đƣợc đảm bảo sức khỏe, có thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động, đảm bảo cuộc sống sinh tồn thì họ sẽ an tâm làm việc, có trách nhiệm trong công việc và mức độ hài lòng sẽ cao. Nhu cầu xã hội, nhu cầu đƣợc tự trọng và nhu cầu tự trọng trong nghiên cứu này biểu hiện qua quan hệ đồng nghiệp hỗ trợ giúp đỡ nhau, sự quan tâm, hỗ trợ của lãnh đạo trong công việc, đối xử công bằng với nhân viên. Khi ngƣời lao động đƣợc đáp ứng các nhu cầu này thì mức độ thỏa mãn càng cao, kích thích nhân viên làm việc và tạo sự gắn bó lâu dài của ngƣời lao động với công ty.Thuyết ERG của Alderfer (1969) Thuyết ERG do học giả Clayton Alderfer đƣa ra, là một sự bổ sung, sửa đổi thành công cho lý thuyết về Tháp nhu cầu của Abraham Maslow. Thuyết ERG nhận ra 3 kiểu nhu cầu chính của con ngƣời: Nhu cầu tồn tại (Existence needs): Ƣớc muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, đƣợc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn nhƣ các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành.
và nhu cầu an toàn. Nhu cầu giao tiếp (Relatedness needs): Ƣớc muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi ngƣời. Mỗi ngƣời đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ƣớc tính một ngƣời thƣờng bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hƣớng tới.
Nhu cầu phát triển (Growth needs): Ƣớc muốn tăng trƣởng và phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc. Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thoả mãn của nhu cầu phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nhu cầu giao tiếp Nhu cầu Nhu cầu tồn tại phát triển Thỏa mãn/tiến triển Thất vọng/quay ngƣợc Thỏa mãn/tăng cƣờng Hình 1.2: Thuyết ERG của Alderfer (Nguồn: www.net) Nhìn chung thuyết ERG giống thuyết Maslow, tuy nhiên có một số sự khác nhau. Thứ nhất, thuyết ERG chỉ gói gọn còn lại 3 nhu cầu là nhu cầu tồn tại, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu phát triển.
Thứ hai, thuyết ERG cho rằng trong cùng một lúc con ngƣời có thể có nhiều nhu cầu còn theo Maslow thì chỉ có một nhu cầu. Thứ ba, đó là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, nghĩa là một nhu cầu không đƣợc đáp ứng sẽ đƣợc bù đắp bởi một nhu cầu khác. Tức là nếu một nhu cầu tồn tại bị cản trở, con ngƣời sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu liên đới và nhu cầu phát triển. Trong môi trƣờng làm việc có thể thu nhập chƣa cao, chƣa đáp ứng nhu cầu của ngƣời lao động nhƣng bù lại thì có điều kiện đƣợc đào tạo, thăng tiến, thể hiện đƣợc bản thân, đồng nghiệp vui vẻ giúp đỡ nhau, đƣợc sự quan tâm chia sẻ của cấp trên thì ngƣời lao động vẫn gắn bó với doanh nghiệp.