CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, xây dựng nông thôn mới là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở nước ta. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Công trình: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành năm 2000. Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam.
Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề của việc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay như: Tương lai của các trang trại nhỏ; nông dân với khoa học; hệ tư tưởng của nông dân ở thế giới thứ ba; các hình thức sở hữu đất đai; những mô hình tiến hoá nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa. Đặc biệt lưu ý là những kết quả nghiên cứu của công trình về làng truyền thống ở Việt Nam; quan hệ làng xóm - Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.[21] Nghiên cứu của Awgichew (2010) về các chính sách và các giải pháp nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia tại Hội thảo quốc tế về “ Ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề” đã nêu lên 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các kinh nghiệm của chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giúp các làng nghề phát triển. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Rất nhiều tác giả quan tâm đến khía cạnh này của vấn đề.TS Hoàng Chí Bảo, NXB CTQG, năm 2004 về “ Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn”[17]; “ Các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ cơ sở” của PGS.
TS Phan Xuân Sơn, NXB CTQG, 2002[16].TS Phan Xuân Sơn và Th.S Lưu Văn Quảng đã trự tiếp bàn về chính sách, hơn nữa lại là chính sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn và chính sách dân tộc trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay”, NXB LLCT, 2005[18]. Luận văn thạc sỹ trường Đại học nông nghiệp Hà Nội năm 2011 “ Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” của Phan Đình Hà, tác giả đã đưa ra được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới ở địa phương và một số giải pháp đề xuất nhằm đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện mô hình nông thôn mới.[12] Công trình nghiên cứu: “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam: Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị” của GS. Đỗ Kim Chung & PGS. Kim Thị Dung - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012.
Bài viết này chỉ ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm hoàn thiện chương trình NTM ở nước ta. Sự chưa phù hợp trong bộ tiêu chí đánh giá, cách tiếp cận “ dội ở trên xuống”, sự thiên lệch trong lựa chọn các xã điểm, chất lượng quy hoạch NTM thấp, chưa phát huy thật tốt sự tham gia của dân, chưa chú trọng đầu tư vào phát triển kinh tế, nhân lực và thể chế, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiếu sự phối hợp giữa các cấp và các ngành, trình độ và năng lực quản lý của cán bộ cơ sở còn hạn chế là những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả các chương trình phát triển nông thôn thấp. Thực hiện cách tiếp cận có sự tham gia, lấy dân là trung tâm cho sự phát triển, bổ sung và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá, ban hành các chính sách hướng dẫn, triển khai xây dựng NTM phù hợp với từng vùng miền, tập trung nhiều hơn vào mục tiêu kinh tế, coi trọng vấn đề xã hội, thực hiện phối hợp giữa các cấp và cách ngành, lồng ghép hữu cơ các chương trình dự án, phát triển nguồn nhân lực địa phương là những giải pháp quan trọng góp phần triển khai thắng lợi chương trình và bảo đảm cho nông thôn phát triển bền vững.[7] Công trình nghiên cứu: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học và công nghệ về giao thông nông thôn, thủy lợi phù hợp với quy hoạch làng xã phục vụ xây dựng nông thôn mới vùng Bắc Trung Bộ” của PGS. Trần Chí Trung, Viện khoa học thủy lợi Việt Nam, năm 2013.
Công trình đã đưa ra được các giải pháp khoa học và công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp với quy hoạch nông thôn mới vùng Bắc Trung Bộ và xây dựng các mô hình ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp cho các tiểu vùng của vùng Bắc Trung Bộ .[9] Công trình nghiên cứu tỉnh Quảng Nam: “ Phát huy vai trò của làng nghề trong xây dựng nông thôn mới” của tác giả Nguyễn Thành Tài, năm 2013. Đây là một công trình về phát triển làng nghề trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay gắn với một địa phương cụ thể. Đề tài cập nhật những vấn đề xung quanh công tác phát triển các làng nghề hiện nay và nêu bật vai trò của lĩnh vựa này trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Đồng thời đưa ra nhiều giải pháp để tạo động lực phát triển như cần quy hoạch lại làng nghề một cách hợp lý và chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.[11] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những công trình này đã cung cấp luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới ở nước ta.
Tuy nhiên những công trình này không đi sâu nghiên cứu mô hình nông thôn mới ở địa bàn cấp xã nói chung và xã Dĩnh Trì nói riêng. Những kết quả nghiên cứu đã nêu là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu và sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm về nông thôn Khái niệm nông thôn thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt.
Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam. Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch. Khu vực nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2, và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên. Việc phân biệt giữa nông thôn và đô thị chỉ có tính chất tương đối.
Thực tế cho thấy, vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt ở các đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn. Những khu vực nông thôn đang có quá trình đô thị hoá nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là cơ sở hạ tầng vùng nông thôn không phát triển bằng vùng đô thị.
Quan điểm khác cho rằng nên dựa vào chỉ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn và cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp.
Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn, thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây. Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển. Gần đây, hội nghị nhóm chuyên viên của tổ chức Liên hiệp quốc đã đề cập đến một khái niệm nông thôn - đô thị.
Có thể hiểu nông thôn-đô thị là một khu vực kinh tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẽ nhau. Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn đô thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung.