phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý các dự án giao thông đƣờng bộ sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng quản lý các dự án giao thông đƣờng bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc ở tỉnh Hà Tĩnh Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các dự án giao thông đƣờng bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dự án Dự án là một quán trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và đƣợc kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, đƣợc tiến hành để đạt đƣợc một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực [19,tr.
Khái niệm quản lý dự án Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt và đạt đƣợc các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, bằng những phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [19,tr.8] Quản lý dự án gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối, thực hiện mà các nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian chi phí và thực hiện thời gian giám sát các công việc dự án nhằm đạt đựoc mục tiêu nhất định. Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xác định mục tiêu, xác định công việc, xây dựng nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất.
Điều phối thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hoá thời gian, lập lịch trình cho từng công 7 việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vƣớng mắc trong quá trình thực hiện.
Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ cuối và cuối kỳ cũng đuợc thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị cho các pha sau của dự án. Vốn ngân sách đối với các dự án giao thông đường bộ 1. Khái niệm vốn ngân sách nhà nước Là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc. Đối với xâyu dựng cơ sở hạ tầng cần phải đầu tƣ rất nhiều vốn, đặc biệt là nguồn vốn từ ngân sách nhà nuớc đóng vai trò rất quan trọng.
Phân loại vốn xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nuớc Để quản lý dự án đầu tƣ xây dựng từ ngân sách nhà nuớc cấn phải phân loại nguồn vốn này. Có nhiều cách phân loại phụ thuộc vào yêu cầu, mục tiêu quản lý của từng loại nguồn vốn khác nhau. Cụ thể một số cachs phân loại nhƣ sau: Theo tính chất công việc của hoạt động xây dựng cơ bản: Vốn đuợc phân thành chi phí xây dựng, chi phí thiết bị và chi phí khác. Trong đó chi phí xây dựng và chi phí thiết bị chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Căn cứ vào nguồn hình thành, tính chất vốn và mục tiêu đầu tƣ, ngƣời ta phân chia thành các nhóm chủ yếu sau: Một là, nhóm vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản tập trung của ngân sách nhà nuớc. Nhóm này bao gồm: Vốn xây dựng cơ bản tập trung, vốn sự nghiệp có 8 tính chất xây dựng, vốn đầu tƣ cho các chuơng trình mục tiêu, vốn ngân sách xã dành cho đầu tƣ xây dựng. - Vốn xây dựng cơ bản tập trung: Là loại vốn lớn nhất về cả quy mô và tỷ trọng. Việc thíêt lập cơ chế chính sách quản lý vốn đầu tƣ xây dựng chủ yếu hình thành từ loại vốn này và sử dụng rộng rãi cho nhiều loại vốn khác.
- Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tƣ xây dựng: Hàng năm ngân sách có bố trí để phát triển một số sự nghiệp nhƣ giao thông, đuờng sắt, dân dụng.nhƣng việc sử dụng vốn này lại bố trí cho một số công trình xây dựng hoặc sửa chữa công trình nên đuợc áp dụng cơ chế quản lý nhƣ vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. - Vốn cho các chuơng trình mục tiêu: Hiện nay có 10 chuơng trình mục tiêu quốc gia và hàng chục chuơng trình mục tiêu khác nhau. - Vốn ngân sách xã dành cho đầu tƣ xây dựng cơ bản: Loại vốn này thuộc ngân sách cấp xã với quy mô không lớn, đầu tƣ vào các công trình của xã. Hai là, nhóm vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nuớc dành cho chuơng trình mục tiêu đặc biệt nhƣ: Chuơng trình 135, chuơng trình giảm nghèo, chuơng trình giáo dục đào tạo, chuơng trình y tế, chuơng trình văn hoá.
Ba là, nhóm vốn vay, bao gồm vốn vay trong nuớc và vốn vay nuớc ngoài. Vốn vay trong nuớc chủ yếu là trài phiếu chính phủ. Vốn vay ngoài nuớc chủ yếu là vay các tổ chức tài chính, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và một số vốn vay khác. Bốn là, nhóm vốn đầu tƣ theo cơ chế đặc biệt nhƣ đầu tƣ cho các công trình an ninh quốc phòng, công trình khẩn cấp.
Nguồn hình thành vốn giao thông đường bộ của Ngân sách nhà nước - Một phần tích lũy trong nƣớc từ thuế, phí, lệ phí; - Vốn viện trợ theo dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ; - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam; - Vốn thu hồi nợ của Ngân sách đã cho vay ƣu đãi các năm trƣớc; - Vốn vay của Chính phủ dƣới các hình thức trái phiếu do Kho bạc nhà nƣớc phát hành theo quyết định của Chính phủ; - Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ; - Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nƣớc. Phạm vi sử dụng vốn Ngân sách nhà nước cho dự án giao thông đường bộ Vốn của Ngân sách nhà nƣớc chỉ đƣợc cấp phát cho các dự án đầu tƣ thuộc đối tƣợng sử dụng vốn Ngân sách nhà nƣớc theo quy định của Luật ngân sách nhà nƣớc và quy chế quản lý đầu tƣ và xây dựng. Cụ thể vốn Ngân sách nhà nƣớc chỉ đƣợc cấp phát cho các đối tƣợng sau: - Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tƣ vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. - Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi đƣợc Thủ tƣớng chính phủ cho phép.
- Các doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc sử dụng vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nƣớc để lại để đầu tƣ (đầu tƣ mở rộng, trang bị lại kỹ thuật). 10 Chi đầu tƣ XDCB của NSNN đó là những khoản chi lớn của Nhà nƣớc đầu tƣ vào việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và nó đƣợc thực hiện bằng chế độ cấp phát không hoàn trả từ Ngân sách nhà nƣớc. Vai trò của dự án giao thông đƣờng bộ đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Giao thông đường bộ với việc thúc đẩy mạnh phát triển kinh tế Giao thông đƣờng bộ góp phần thu hút đầu tƣ trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài, rút ngắn đƣợc khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nƣớc do đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế giữa các địa phƣơng, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa phƣơng và thúc đẩy các địa phƣơng phát triển kinh tế.
Giao thông đƣờng bộ góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế thông qua kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động. Sự phát triển của giao thông đƣờng bộ đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trƣởng GDP của Việt Nam trong thời gian qua. Các công trình giao thông đƣờng bộ thu hút một lƣợng lớn lao động do đó góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho quốc gia, mặt khác khi vốn đầu tƣ cho dự án giao thông đƣờng bộ lớn sẽ kích thích thu hút vốn đầu tƣ cho các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm phục vụ cho sự phát triển của các dự án giao thông nhƣ sắt, thép, xi măng, đá, gạch.[14] Giao thông đƣờng bộ phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí và thời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng và phát triển của các ngành khác. Giao thông đường bộ góp phần phát triển văn hóa xã hội Phát triển văn hóa xã hội là phát triển đời sống tinh thần của ngƣời dân, điều này góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của Quốc gia.
Dân số 11 Việt Nam tính đến năm 2012 khoảng 88,78 triệu ngƣời đến từ các dân tộc khác nhau và sống trong các vùng không đồng đều về lịch sử, địa lý.do đó đời sống tinh thần cũng khác nhau, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, các vùng xa xôi hẻo lánh. Nhờ có giao thông đƣờng bộ phát triển mà khoảng cách đó ngày càng đƣợc xóa bỏ, sự giao lƣu văn hóa giữa các vùng ngày càng đƣợc tăng cƣờng, làm phong phú thêm đời sống nhân dân từ đó kích thích ngƣời dân hăng say lao động đóng góp vào sự phát triển của đất nƣớc [14]. Giao thông đường bộ thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập và giao lƣu kinh tế về mọi mặt đang là xu hƣớng diễn ra mạnh mẽ giữa các nƣớc trong khu vực và trên toàn thế giới và Việt Nam không nằm ngoài xu hƣớng đó.