CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - SINGAPORE 1. Cơ sở lý luận của quan hệ thương mại quốc tế 1. Các vấn đề cơ bản của thương mại quốc tế 1. Khái niệm hương mại quốc tế chính là sự trao đ i hàng hoá dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán.
Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của từng quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế quốc tế hiện đại, thương mại quốc tế được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các đối tác có quốc tịch khác nhau, ranh giới địa lý không còn là tiêu chí duy nhất để xác định hoạt động thương mại quốc tế như trước đây. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, thương mại quốc tế có tính chất sống còn bởi nó không chỉ cho phép khai thác lợi thế của nước xuất khẩu mà còn mở rộng khả năng tiêu dùng của nước nhập khẩu. Thực tế cho thấy là mỗi quốc gia c ng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được.
Thương mại quốc tế làm đa dạng hoá mặt hàng với số lượng nhiều hơn, chất lượng cao hơn và vượt qua ranh giới khả năng sản xuất của mỗi quốc gia nếu chỉ thực hiện tự cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài. Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là sự phân công lao động xã hội. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm và dịch vụ để thoả mãn con người càng đa dạng, phong phú thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn. -8- Đối với nước ta c ng vậy, thương mại quốc tế sẽ cho phép giới thiệu, thúc đẩy, khai thác tiềm năng và thế mạnh trong nước đối với nước ngoài một cách có lợi nhất.
Theo đó, phân công lao động ngày càng phát triển, mọi tiềm năng để sản xuất nhiều hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu sẽ được khai thác một cách ngày càng hiệu quả hơn. Nguồn gốc và cơ sở lý luận về thương mại quốc tế * Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối được phát triển bởi nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1 23 - 1 90). Lý thuyết này đã chỉ ra nguyên nhân của mối quan hệ buôn bán giữa các quốc gia với nhau. Đó chính là sự khác nhau về các nguồn tài nguyên của nó.
Theo quan niệm về lợi thế tuyệt đối, một nước chỉ sản xuất các hàng hoá mà nó cho phép sử dụng tối ưu nhất các nguồn tài nguyên của nó. Đây chính là cách giải thích đơn giản nhất về cách ứng xử trong buôn bán. R ràng là việc tiến hành thương mại giữa các quốc gia phải đảm bảo cho họ đều có lợi. Nếu một quốc gia có lợi và một quốc gia khác bị thiệt hại từ thương mại thì họ từ chối ngay.
Giả sử rằng thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng giống nhau. Quốc gia thứ nhất có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá A so với quốc gia thứ hai và quốc gia thứ hai có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá B so với quốc gia thứ nhất. Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối sau đó trao đổi cho nhau, thì cả hai quốc gia đều có lợi. Trong quá trình này, các nguồn lực sản xuất của cả thế giới sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả nhất, và do đó, tổng sản phẩm của toàn thế giới sẽ gia tăng.
Sự tăng thêm của các sản phẩm của cả thế giới là nhờ vào sự chuyên môn hoá và sẽ được phân bổ giữa hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thông qua ngoại thương. -9- Như vậy Adam Smith đã có niềm tin rằng tất cả các quốc gia đều có lợi từ ngoại thương và ông ủng hộ mạnh mẽ chính sách tự do kinh doanh. Ngoại thương tự do sẽ là nguyên nhân làm cho các nguồn tài nguyên của thế giới được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và tất nhiên phúc lợi của thế giới nói chung sẽ được tạo ra ở mức tối đa. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối giải thích được tại sao một nền kinh tế phải phụ thuộc vào nguồn nguyên nhiên liệu từ bên ngoài như Nhật Bản lại có thể phát triển thành một nền kinh tế hùng mạnh trên thế giới.
Tuy nhiên tại sao một cường quốc như Mỹ, một nước đứng đầu ngành công nghiệp ô tô thế giới với những tên tuổi lừng danh như General Motors, Ford, Chrysler,. lại nhập xe Nissan, Toyota. từ Nhật Bản? Lý thuyết về lợi thế so sánh (hay lợi thế tương đối) sẽ trả lời cho câu hỏi này. * Lý thuyết về lợi thế so sánh Năm 181 , nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh là David Ricardo (1772 – 1823) đã chứng minh rằng chuyên môn hoá quốc tế có lợi cho tất cả các nước và ông gọi kết quả đó là quy luật lợi thế tương đối.
Quy luật này được nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất, coi đó là chìa khoá của các phương thức thương mại. Lý thuyết này đã kh ng định rằng: Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho mình. Nghĩa là, nếu quốc gia này tham gia vào thương mại quốc tế thì nó có thể thu được lợi ích không nhỏ. Khi tham gia thương mại quốc tế, quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất tất cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ch ng ít bất lợi nhất (Đó là những hàng hoá có lợi thế tương đối) và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ch ng bất lợi lớn nhất (Đó là loại hàng hoá không có lợi thế tương đối).
Để chứng -10- minh lý thuyết của mình, David Ricardo đã đưa ra một mô hình giả định đơn giản dựa trên các giả thiết như: Thế giới chỉ có hai quốc gia và chỉ sản xuất hai mặt hàng, mỗi quốc gia có lợi thế về một mặt hàng, công nghệ sản xuất của hai nước là cố định, chi phí sản xuất cố định, không có chi phí vận tải, lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi nước nhưng không thể di chuyển giữa các nước và thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước.1: Lợi thế so sánh (Lợi thế tương đối) Sản phẩm Việt Nam Singapore Thép (kg /1 giờ công) 1 6 Vải (m /1 giờ công) 2 4 Nguồn: [6] Từ bảng 1.1 ta thấy rằng, Singapore có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam về cả hai loại hàng hoá. Nhưng khi năng suất lao động ở ngành thép của Singapore gấp 6 lần của Việt Nam thì năng suất lao động ở ngành dệt của Singapore chỉ gấp có 2 lần. Như vậy giữa thép và vải, Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải, còn Singapore có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai loại hàng hoá so với Việt Nam nhưng chỉ có lợi thế tương đối trong sản xuất thép. Theo quy luật lợi thế tương đối thì cả hai quốc gia sẽ đều có lợi nếu Singapore chuyên môn hoá sản xuất thép còn Việt Nam chuyên môn hoá sản xuất vải, sau đó tiến hành trao đổi một phần thép lấy một phần vải cho nhau.1 minh hoạ giả định của Ricardo đã giải thích trong hoàn cảnh của một mô hình kinh tế đơn giản, với nhiều giả định rằng dù một nước có năng suất lao động sản xuất các loại hàng hoá cao hơn các nước khác nhưng thông qua thương mại quốc tế vẫn có lợi nếu chuyên môn hoá vào sản xuất những mặt hàng mà nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn các nước khác để sản -11- xuất ra hàng hoá đó.
Quan điểm này đã được phát triển một cách cụ thể và r ràng hơn bởi các nhà kinh tế Tân cổ điển sau này. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo giải thích một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành, phát triển của thương mại quốc tế. Trong thực tế, nhiều quốc gia có thể cùng sản xuất một mặt hàng, mỗi quốc gia có cách kết hợp sử dụng các nguồn lực khác nhau để sản xuất hàng hoá đó dẫn đến chi phí cơ hội để sản xuất ra nó ở những nước khác nhau c ng rất khác nhau. Chi phí cơ hội của một mặt hàng là số lượng những mặt hàng khác mà người ta phải từ bỏ để sản xuất hoặc kinh doanh thêm một đơn vị mặt hàng đó.
Tuy nhiên lý thuyết của Ricardo còn nhiều vấn đề chưa được thoả đáng, đặc biệt là giả định về nguồn lực duy nhất có thể thay đổi được đó là lao động. Do đó mô hình Heckscher-Ohlin (hay còn gọi là Heckscher Ohlin Samuelson) với cách nhìn thực tế hơn sẽ giải thích thoả đáng nguồn gốc của thương mại quốc tế vẫn trên cơ sở lý thuyết lợi thế so sánh. Trong phạm vi một doanh nghiệp, đất đai có nghĩa là một vị trí mà doanh nghiệp đó xây dựng nên nhà máy văn phòng của mình. Nhưng thực tế đất đai còn bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên là nguyên vật liệu, nhiên liệu cho quá trình sản xuất.
Lao động bao gồm lao động chân tay, lao động trí óc. Tư bản bao gồm tiền vốn và các máy móc trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế ba yếu tố trên c ng có thể hiểu một cách tương tự. Và ở các góc độ khác nhau, trong ngắn hạn hay dài hạn, ba yếu tố này đều có thể thay đổi được.
-12- Định lý Heckscher-Ohlin phát biểu rằng, một nước sẽ xuất khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ch ng cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó, và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ch ng cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở nước đó. Nói một cách vắn tắt, một nước tương đối giàu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Trong ví dụ trên Singapore sẽ gặp lợi thế so sánh về thép còn Việt Nam về vải.