Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về FDI và nguyên nhân của sự tồn tại mặt trái trong quá trình thu hút FDI vào Trung Quốc - Chương 2: Thực trạng của quá trình thu hút FDI và mặt trái của FDI ở Trung Quốc - Chương 3: Một số giải pháp của Trung Quốc trong khắc phục mặt trái của FDI và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ FDI VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ TỒN TẠI MẶT TRÁI TRONG QUÁ TRÌNH THU HÚT FDI VÀO TRUNG QUỐC 1. Những vấn đề cơ bản về FDI 1. Khái niệm Đầu tƣ quốc tế là sự di chuyển tài sản nhƣ vốn, công nghệ, kỹ thuật, khả năng quản lý…từ nƣớc này sang nƣớc khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu.
Đầu tƣ quốc tế đƣợc biểu hiện chủ yếu dƣới hai hình cơ bản là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) và đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (Portfolio Foreign Investment - PFI). Trong hai hình thức trên của đầu tƣ quốc tế thì đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc các nhà kinh tế rất chú ý và đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là đầu tƣ có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nƣớc khác (nƣớc nhận đầu tƣ – hosting country), không phải tại nƣớc mà doanh nghiệp đang hoạt động (nƣớc đi đầu tƣ – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp” Trong Báo cáo đầu tƣ thế giới năm 1996 đã đƣa ra định nghĩa về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ sau: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là đầu tƣ có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân (nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nƣớc ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)” [34] 7 Việt Nam cũng đƣa ra định nghĩa của riêng mình về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc quy định trong Luật đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam. Theo đó: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài trực tiếp đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đƣợc Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức sản xuất kinh doanh” [3] Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhƣng chung quy lại có thể hiểu: đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Vai trò của FDI 1. Đối với việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động Thông qua hoạt động đầu tƣ các doanh nghiệp FDI góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Các doanh nghiệp FDI trực tiếp tạo việc làm thông qua việc tuyển dụng lao động ở nƣớc sở tại.
Bên cạnh việc làm này, doanh nghiệp FDI còn gián tiếp tạo việc làm thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực kinh tế này. Mức độ tác động của FDI trong việc giải quyết việc làm phụ thuộc trực tiếp vào các nhân tố nhƣ: quy mô đầu tƣ, lĩnh vực sản xuất, trình độ công nghệ, chính sách công nghiệp và chính sách thƣơng mại của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Bên cạnh đó, tác động của FDI đến thị trƣờng lao động cũng phụ thuộc vào cơ cấu nền kinh tế, định hƣớng phát triển cũng nhƣ chất lƣợng lao động và chính sách lao động của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Nguồn vốn FDI đã có tác động quan trọng trong tạo việc làm và cải thiện chất lƣợng nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Trong giai đoạn 1987 - 2009, 8 các doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm cho trên 2 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp khác với thu nhập cao hơn; ngƣời lao động đƣợc đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, rèn luyện tác phong công nghiệp. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một vấn đề là cơ hội việc làm này cũng đƣợc phân bố không đều do FDI chủ yếu chỉ tập trung vào một số ngành Việt Nam có ƣu thế về lao động và thị trƣờng 1. Đối với sự phát triển của hàng hoá sức lao động Ngoài tác động tạo việc làm cho ngƣời lao động FDI còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lƣợng lao động và phát triển nhân lực ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. FDI làm thay đổi cơ bản năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông qua hoạt động đào tạo và quá trình làm việc của lao động.
Làm việc trong các doanh nghiệp FDI đòi hỏi ngƣời lao động phải có kiến thức và khả năng đáp ứng yêu cầu cao về cƣờng độ và hiệu quả công việc. Cụ thể: - Ngƣời lao động phải có sức khỏe tốt để có thể làm việc với cƣờng độ cao. - Có trình độ văn hoá cao để đáp ứng những đòi hỏi của trang thiết bị và kỹ thuật công nghệ hiện đại. - Có kỷ cƣơng, tác phong công nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả lao động của cá nhân và tập thể.
Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI luôn đòi hỏi ngƣời lao động nỗ lực không ngừng để hoàn thiện mình thông qua những yêu cầu ngày càng cao đối với công việc, cơ hội phát triển, cơ hội thăng tiến…. Do vậy, trong các doanh nghiệp FDI trình độ học vấn và trình độ nghiệp vụ của ngƣời lao động tƣơng đối cao so với mặt bằng chung. Những yêu cầu trên đòi hỏi phải không ngừng phát triển bản thân cả về thể lực và trí lực. Bên cạnh đó, để ngƣời lao động đáp ứng đƣợc các yêu cầu của công việc các doanh nghiệp FDI thƣờng tiến hành tuyển chọn, đào tạo và 9 bồi dƣỡng nghiệp vụ khá chặt chẽ, nhất là các ngành nghề đòi hỏi chất lƣợng lao động cao.
Do đó, FDI vừa gián tiếp khuyến khích ngƣời lao động tăng đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực vừa trực tiếp đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực. Thêm vào đó, do chi phí thuê lao động nƣớc ngoài cao hơn lao động địa phƣơng, các doanh nghiệp trong khu vực FDI phải tuyển dụng lao động địa phƣơng. Để ngƣời lao động có thể sử dụng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại các doanh nghiệp FDI phải có kế hoạch đào tạo. Thế nên, trong chiến lƣợc phát triển của các tập đoàn lớn hay các công ty đa quốc gia luôn có kế hoạch đào tạo lao động địa phƣơng nhằm từng bƣớc thay thế lao động ngƣời nƣớc ngoài.
Đối với sự phát triển của thị trƣờng lao động Bên cạnh những tác động tích cực trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động cũng nhƣ sự phát triển nguồn nhân lực, thông qua các hoạt động của mình, đầu tƣ FDI còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng lao động. Cùng với sự gia tăng về chất lƣợng và trình độ của lao động, ngƣời lao động có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn nơi làm việc. Bên cạnh đó, lao động có trình độ cao có khuynh hƣớng tìm việc thông qua các kênh lao động chính thức cao hơn lao động trình độ thấp. Đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của các dịch vụ tƣ vấn – giới thiệu việc làm và thị trƣờng lao động.
Bên cạnh đó, khi nhận thức của ngƣời lao động đƣợc nâng lên, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến điều kiện lao động, những điều khoản quy định cũng nhƣ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Đây là nhân tố quan trọng góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của thị trƣờng lao động. Chất lƣợng lao động có mối quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu suất lao động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Và do đó, khuyến khích doanh nghiệp tăng 10 đầu tƣ cho phát triển.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, vốn đầu tƣ tăng sẽ làm tăng cầu về lao động. Cạnh tranh thu hút lao động cũng là một nhân tố kích thích sự phát triển của thị trƣờng lao động. Với tƣ cách là một thành phần kinh tế, sự tham gia của khu vực FDI sẽ góp phần làm tăng tính cạnh tranh của thị trƣờng lao động. Với những ƣu điểm về tiền lƣơng, điều kiện làm việc, cơ hội phát triển…thành phần kinh tế này có sức hấp dẫn rất lớn đối với ngƣời lao động.
Do vậy, để cạnh tranh thu hút lao động các thành phần kinh tế khác phải cải thiện môi trƣờng làm việc, tạo thêm thu nhập cho ngƣời lao động. Đồng thời, sự đa dạng của các thành phần kinh tế sẽ góp phần làm đa dạng hoá các nguồn cung cầu lao động trên thị trƣờng, yếu tố thuận lợi sự hình thành và phát triển của thị trƣờng lao động. Nhƣ vậy, trong quá trình hoạt động FDI – trực tiếp hay gián tiếp - tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự vận hành và phát triển của thị trƣờng lao động. Sự phát triển của khu vực kinh tế này không chỉ tạo ra những ngoại tác tích cực cho sự phát triển thị trƣờng lao động mà còn khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia vào thị trƣờng lao động.
Đối với chuyển giao công nghệ Trong một số trƣờng hợp, vốn cho tăng trƣởng dù thiếu vẫn có thể huy động đƣợc phần nào bằng "chính sách thắt lƣng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có đƣợc bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nƣớc có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nƣớc thu hút đầu tƣ còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nƣớc.
Tác động hai mặt của FDI 11 1.