Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Vinaphone sau khi Việt Nam gia nhập WTO 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một đặc trƣng cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, là điều kiện sống còn cho mỗi doanh nghiệp; nó ảnh hƣởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Tuy nhiên để định nghĩa đƣợc khái niệm cạnh tranh lại không phải là một vấn đề đơn giản do nó đƣợc sử dụng trong những phạm vi khác nhau từ cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia cho đến quốc tế; trong khi đó những mục tiêu cơ bản của việc cạnh tranh lại đƣợc đặt ra khác nhau phụ thuộc đối tƣợng đƣợc xem xét là một doanh nghiệp hay một quốc gia. Vì vậy đã có nhiều định nghĩa về cạnh tranh nhƣ sau: Theo Các Mác:”Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch” [3] Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” tức là nâng cao vị thế của ngƣời này và làm giảm vị thế của ngƣời khác. [6] Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì:” Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường” [5] Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại cho rằng: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
[2] 5 Ngoài ra, còn có thể diễn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh. Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh nhƣ sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, dự án…) một loạt điều kiện có lợi (một thị trƣờng, một khách hàng…). Mục đích cuối cùng là kiếm đƣợc lợi nhuận cao Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ nhƣ: đặc điểm sản phẩm, thị trƣờng, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ (chính sách định giá thấp; chính sách định giá cao; chính sách ổn định giá; định giá theo thị trƣờng; chính sách giá phân biệt); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán.
Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu nhƣ sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”. Đối với mỗi doanh nghiệp mục tiêu đặt ra khi tham gia thị trƣờng thƣờng là tối đa hoá lợi nhuận; để đạt đƣợc mục tiêu đó doanh nghiệp cần phải tìm các biện pháp để giành cho mình một vị thế nào đó trên thị trƣờng. Đặc biệt khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay thì việc giành vị thế trên thị trƣờng còn là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Khi đó doanh nghiệp nào giành đƣợc nhiều thị trƣờng thì sẽ dễ dàng thành công trong hoạt động SXKD của mình.
Cạnh tranh trong một môi trƣờng nhƣ hiện nay đồng nghĩa với ganh đua: ganh đua về giá cả, chất lƣợng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này với các nhân tố khác 6 để tác động đến khách hàng. Điều kiện để xuất hiện cạnh tranh là phải có ít nhất hai chủ thể có quan hệ đối kháng và phải có sự tƣơng ứng giữa sự cống hiến và phần đƣợc hƣởng của mỗi thành viên. Ngày nay vấn đề cạnh tranh ngày càng đƣợc các doanh nghiệp coi trọng. Để chống lại việc cạnh tranh không lành mạnh, các quốc gia đã và đang nỗ lực ban hành và hoàn thiện các điều luật về cạnh tranh.
Điều này sẽ là một công cụ điều tiết đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực.2 Các hình thức cạnh tranh Một doanh nghiệp khi tham gia thị trƣờng cạnh tranh, để có thể cạnh tranh đƣợc thƣờng áp dụng rất nhiều hình thức cạnh tranh. Các hình thức cạnh tranh có thể là: a. Cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ Để cạnh tranh đòi hỏi sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp phải thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng mục tiêu. Cạnh tranh về sản phẩm có thể là cạnh tranh về chất lƣợng dịch vụ, chất lƣợng phục vụ, sự đa dạng hoá các dịch vụ GTGT.
Trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt hiện nay cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ là sự cạnh tranh về những gì mà doanh nghiệp hoàn chỉnh cho sản phẩm của mình; dƣới hình thức bao gói, dịch vụ, quảng cáo, tƣ vấn cho khách hàng, những đặc điểm giao hàng, dịch vụ lƣu kho… Cạnh tranh về sản phẩm có thể là hoàn thiện sản phẩm hiện có bằng cách cải tiến các thông số chất lƣợng của sản phẩm dịch vụ hay tiến hành nghiên cứu phát triển để đƣa ra các sản phẩm dịch vụ mới thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng mục tiêu, cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá các thông số của sản phẩm dịch vụ. Cạnh tranh về giá Doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu thị trƣờng, sự giãn nở nhu cầu sản phẩm cạnh tranh theo giá, giá các sản phẩm cạnh tranh, giá của đối thủ cạnh tranh, so sánh chi phí cho sản phẩm của mình để từ đó có cơ sở hình thành giá. Doanh nghiệp có thể áp dụng các chính sách giá phân biệt nhằm khai thác triệt để độ co giãn của các mức cầu nhƣ giá thay đổi theo số lƣợng sử dụng sản phẩm. Giá thay đổi theo thời 7 gian sử dụng sản phẩm.
Giảm giá cho các tầng lớp xã hội, đối tƣợng ƣu tiên, các vùng ƣu tiên và giảm giá tạm thời. Giá cả là một vũ khí lợi hại để doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh, nhƣng để thực hiện hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu kỹ lƣỡng những phản ứng từ phía khách hàng, đối thủ cạnh tranh để tránh xảy ra một cuộc chiến về giá, hơn nữa sử dụng công cụ này phải tuân theo các quy định của nhà nƣớc. Cạnh tranh về phân phối sản phẩm, dịch vụ Để sản phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có đƣợc hệ thống phân phối hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả. Hai sản phẩm có chất lƣợng, giá cả tƣơng tự nhau thì sản phẩm nào thuận tiện với ngƣời tiêu dùng hơn sẽ chiếm ƣu thế hơn.
Hiện nay bên cạnh chú trọng hoàn thiện đa dạng hoá sản phẩm, cạnh tranh về giá thì các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau về hệ thống phân phối nhƣ mạng lƣới đại lý, các hình thức chuyển giao sản phẩm tới tận tay khách hàng. Chọn kênh phân phối nào là một quyết định quan trọng ảnh hƣởng lâu dài đến công tác đầu tƣ, phân đoạn khách hàng và toàn bộ chiến lƣợc Marketing của doanh nghiệp. Cạnh tranh về xúc tiến bán hàng Công tác xúc tiến bán hàng bao gồm: Quảng cáo đã trở nên không thể thiếu trên tất cả các thị trƣờng, và khi cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn thì chi phí quảng cáo tăng và chiến dịch quảng cáo cũng đƣợc thiết kế tinh vi hơn. Thông qua truyền thông, quảng cáo doanh nghiệp thu hút khách hàng chú ý đến sản phẩm của doanh nghiệp, thuyết phục họ về các ƣu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh.
Truyền thông, quảng cáo giúp doanh nghiệp tăng doanh số của các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhận biết và ƣa thích của khách hàng đối với các sản phẩm mới, và xây dựng một hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trong mắt ngƣời tiêu dùng. Khuyến mại bao gồm các hoạt động kích thích khách hàng mua sản phẩm và các trung gian nỗ lực bán hàng. Khuyến mại giúp đạt đƣợc các mục tiêu: gia tăng sự chú ý, nhận biết của khách hàng về thƣơng hiệu dịch vụ; kích thích khách hàng mua 8 hàng, tác động làm khách hàng chuyển từ việc sử dụng sản phẩm cạnh tranh sang sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp… 1.3 Chức năng của cạnh tranh Đƣợc thừa nhận là một hiện tƣợng kinh tế, là môi trƣờng vận động của cơ chế thị trƣờng, cạnh tranh thực sự tồn tại nhƣ một quy luật khách quan, là động lực thúc đẩy và điều tiết mọi hoạt động kinh tế. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng nhất định.
Tầm quan trọng của những chức năng này có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Một là, cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trƣờng. Khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những ngƣời bán làm cho giá cả thị tr-ƣờng giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phƣơng thức quản lý và hạ đƣợc giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại. Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trƣờng, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân. Khi đó ngƣời kinh doanh sẽ đầu tƣ vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lƣợng vốn đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội.