Chương 1 MOT SO VAN DE VE TU VA PHUONG NGU TIENG VIET 1. TU TIENG VIET 1. Khai niém Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nhưng vấn đề nhận diện và định nghĩa từ cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất. de Saussure đã viết “vì ứờ, mặc dẫu khó định nghĩa, van là một đơn vị.
mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [17; 214]. Ö Việt Nam, cho đến nay, vấn đề ranh giới từ vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trên đại thể, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng khác nhau trong cách giải quyết vấn đề ranh giới từ trong tiếng Việt. Khuynh hướng thứ nhất coi tiếng là từ.
Đại diện tiêu biểu là Nguyễn Tài Cân [6], Nguyễn Thiện Giáp [18],. Nguyễn Tài Cân cho rằng tiếng là đơn vị cơ bản trong truyền thống ngữ văn Việt Nam. Trong hệ thống đơn vị ngữ pháp “có thể coi tiếng như một đơn vị đứng ở điểm giao nhau của hai hệ thống nhỏ” [6; 368]. Hai hệ thống nhỏ ấy là: Hệ thống 1, nửa tổ chức, nửa chức năng, có từ, cú vị, câu; Hệ thống 2, đơn thuần tổ chức, có tiếng, tổ hợp cố định (bao gồm từ ghép) và tổ hợp tự do (bao gồm đoản ngữ).
Về hệ thống 2, tác giả viết “khi đi từ tiếng lên to hợp tiếng, tách tổ hợp cố định nói chung, tách từ ghép nói riêng với tổ hợp tự do, tách tổ hợp tự do thành đoản ngữ, mệnh đê,. lại là đi theo con đường đơn thuần tổ chức [6; 368]. Xét về mặt khối lượng và quan hệ nội tại giữa tiếng, từ ghép và đoản ngữ, tác giả cho rằng tiếng chặt hơn từ ghép, từ ghép chặt hơn đoản ngữ, và ngược lại, đoản ngữ lớn hơn từ ghép, từ ghép lớn hơn tiếng. Tác giả viết 18 “trong tiếng Việt, đi từ tiếng lên từ ghép hay từ từ ghép lên đoản ngữ rõ ràng là đi từ một từ bé lên một từ lớn hơn” [6; 352].
Có thê hình dung quan niệm của ông qua sơ đô sau: Tiếng chặt Từ ghép { Đoản ngữ lỏng bé > lớn Trong hệ thống này, tác giả cho rằng: từ ghép thuộc tổ hợp có định, đoản ngữ thuộc tổ hợp tự do. Điểm khác biệt giữa hai tác giả này là ở chỗ: Nguyễn Thiện Giáp [18] không thừa nhận từ ghép là từ, còn tiếng được Nguyễn Thiện Giáp coi là từ (bao gồm cả những từ điền hình và những từ không điển hình). Từ đó, ông kết luận: “đường ranh giới rành mạch nhất, hiển nhiên nhất bao giờ cũng là đường ranh giới độc lập một bên là “tiếng” (từ điển hình, từ không điền hình) và một bên là “tổ hợp tiếng” (bao gồm từ ghép và các tô hợp cô định còn lại)” Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng thứ hai là các tác giả: Nguyễn Kim Thản [52], Đái Xuân Ninh [43], Hồ Lê [36], Hữu Đạt [16], Hoàng Văn Hành [22], Đỗ Hữu Châu [9], Nguyễn Văn Tu [67],. Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng: 1.
Để nhận diện từ, nhất thiết phải dựa vào ba tiêu chí: - Tính nhất thê về ngữ âm - Tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa - Tính độc lập về cú pháp 2. Tuy còn tồn tại những khó khăn nhất định, song có thê chấp nhận và vận dụng khái niệm hình vị vào để phân tích cấu trúc của từ tiếng Việt. Dù còn có sự phức tạp trong sự phân định ranh giới, nhưng từ vẫn luôn là một thực thể, tồn tại với tư cách là một từ cơ bản của tiếng Việt, và khái niệm từ vẫn luôn là một khái niệm trung tâm của Việt ngữ học. Từ tiếng Việt về cơ bản có thê phân thành: từ đơn, từ phức (bao gồm từ ghép và từ láy).
Tuy nhiên, giữa các tác giả thuộc khuynh hướng thứ hai này vẫn còn tồn tại những điểm khác biệt về hệ thống phân loại, tiêu chí phân loại, sử dụng hệ thống thuật ngữ,. Có thể nói, mỗi khuynh hướng đều có những ưu nhược điểm riêng.Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm thứ hai, xem hình vị là đơn vị cơ bản đề cấu tạo từ tiếng Việt. Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà Việt ngữ học đồng tình. Từ đó, chúng tôi hiểu: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, hoạt động tự do, dùng để đặt câu.
Cấu tạo Hiện nay, xung quanh vấn đề cấu tạo từ ngữ tiếng Việt vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, như đã xác định, chúng tôi chọn “hình vị” là đơn vị cơ bản cấu tạo từ ngữ tiếng Việt. Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà Việt ngữ học ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi cho rằng tiếng Việt có từ và ngữ. Phương thức sử dụng một hình vị độc lập để tạo một từ.
Ứng với phương thức cấu tao nay, ta c6 tir don tiết. Ví dụ: cây, hoa, nhà, trâu, ngựa, cười, vui, buỗn, đẹp,. Phương thức sử dụng hai hay nhiều âm tiết không độc lập để tạo một hình vị độc lập. Ứng với phương thức cấu tạo này, ta co tur da tiết.
Ví dụ như a ti sô, ti gon, ca phé,. 20 Phương thức tổ hợp các hình vị lại theo một quan hệ nào đó để tạo từ. Ứng với phương thức cấu tạo, ta có ngữ. Dựa vào quan hệ ngữ âm hay ý nghĩa, có thê phân ngữ thành hai loại chính.
Tổ hợp hai hoặc hơn hai hình vị lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có øe# ghép. Ngữ ghép được chúng tôi chia làm hai loại: ghép đẳng lập và ghép chính phụ. Ngữ ghép đẳng lập là những ngữ ghép mà giữa các hình vị trong ngữ có quan hệ bình đẳng VỚI nhau.
Ví dụ: nhà cửa, cha mẹ, quân do,. Ngữ ghép chính phụ là ngữ ghép mà ở đó có it nhất một hình vị cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một hình vi cấu tạo khác, tức trong kiểu ngữ ghép nay thường có một hình vị chính và một hình vị phụ về mặt ngữ pháp. Ví dụ: sân bay, xanh lè, dựa đỏ,. Tổ hợp hai hoặc hơn hai hình vị lại với nhau dựa trên quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.
Ứng với phương thức cấu tạo ngữ này, ta có øgữ láy. Ngữ láy được chúng tôi chia làm ba loại: láy hai, láy ba và láy tư. Ngữ láy đôi là ngữ láy gồm có hai hình vị. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau: Ngữ iáy bộ phận: ngữ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.
Ví dụ: sạch sẽ, đông đúc, chói lọi, khéo léo,. Neữ láy hoàn toàn gồm các dạng sau: giống nhau cả phần van phu 4m đầu và thanh điệu. Ví dụ: xanh xanh, vàng vàng,.; giống nhau phần vần, phụ âm đầu, khác nhau về thanh điệu. Ví dụ: do do, tim tím,.; giêng nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối đo sự chỉ phối của quy luật dị hóa.
Ví dụ: đèm đẹp, bàng bạc,. Ngữ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, kết hợp việc thay đối thanh điệu. Ví đụ: con — cỏn còn con sạch — sạch sành sanh 21 Ngữ láy tr: phần lớn đựa trên cơ sở láy đôi, kết hợp với đôi vần, thay đổi thanh điệu. Ví dụ: hớt hải — hớt ho hót hải,.
Ngữ âm - ngữ nghĩa 1.Từ đồng nghĩa Đồng nghĩa là một hiện tượng xảy ra phô biến trong các ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng. Đồng thời, nó có thể xảy ra ở khắp các cấp độ ngôn ngữ. Tuy nhiên, vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm nhiều nhất chính là hiện tượng đồng nghĩa ở cấp độ từ ngữ. Có thê nói, đến nay, quan niệm về từ đồng nghĩa chưa phải đã thống nhất.
Theo cách hiểu truyền thống, từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa gần nhau hay giống nhau. Nhìn chung, quan điểm này đúng nhưng chưa đủ vì còn quá chung chung không quan tâm tới từ đồng nghĩa giống nhau về nghĩa biểu vật hay biểu niệm và không tính tới một cách nghiêm túc hiện tượng đa nghĩa. Trên cơ sở kế thừa những quan niệm truyền thống, các nhà ngôn ngữ học hiện đại đã dựa vào các tiêu chí khác nhau đề nhận diện từ đồng nghĩa. Trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, dựa vào sắc thái nghĩa hoặc sắc thái phong cách, Vũ Đức Nghiệu cho rằng “2 đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa; khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau vê một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách.
nào đó, hoặc đông thời cả hai” [13; 195]. Dựa vào tương quan ngữ cảnh, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngữ ngôn nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể, có thể thay thế cho nhau được. Những từ này là những từ đông nghĩa [73; 346]. 22 Dựa vào nghĩa biểu vật và sự vật, hiện tượng được gọi tên, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau.
Đó là nhiễu từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó là những tên khác nhau của cùng một hiện tượng. Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh ” [67; 95]. Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đông nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu.
Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho từ đồng nghĩa là những từ gân nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” [19; 191-192] Dựa vào ý kiến của các tác giả trên, chúng tôi hiểu khái niệm từ đồng nghĩa như sau: Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, có âm thanh khác nhau, cùng thuộc về một từ loại, nhưng khác nhau về các sắc thái thể hiện của cùng một khái niệm. Từ đa nghĩa Khảo sát vấn đề từ đa nghĩa trong giới Việt ngữ học, chúng tôi nhận thấy, về cơ bản có hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất chỉ dựa vào số lượng nghĩa trong một từ đa nghĩa. Đại điện tiêu biểu là Nguyễn Văn Tu và Vũ Đức Nghiệu.
Nguyễn Văn Tu cho tằng: “Khi nói về từ nhiều nghĩa là nói về một từ có nhiều nghĩa khác nhau” [67; B1].