Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ mang tên “Đối chiếu giới từ chỉ không gian „auf/ in‟ trong tiếng Đức với „trên/ trong‟ trong tiếng Việt” được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Nương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Kim Bảng. Công trình thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 9.24) và được bảo vệ vào năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế, tiếng Đức là một ngôn ngữ có vai trò quan trọng. Tiếng Đức được đánh giá là ngôn ngữ có hệ thống ngữ pháp phức tạp, đặc biệt là phạm trù giới từ (Präposition). Danh từ trong tiếng Đức phân biệt ba giống: giống đực (der/Maskulinum), giống cái (die/Femininum), giống trung (das/Neutrum) và biến đổi theo bốn cách: cách 1 (Nominativ), cách 2 (Genitiv), cách 3 (Dativ), cách 4 (Akkusativ). Giới từ tiếng Đức không chỉ đòi hỏi danh từ đi kèm phải tuân thủ một cách ngữ pháp nhất định mà còn quy định ý nghĩa tĩnh tại hay chuyển động của sự tình.

Sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ và cơ chế tri nhận không gian giữa hai dân tộc là nguyên nhân chính dẫn đến các rào cản giao tiếp và lỗi dịch thuật. Một lỗi điển hình của người Việt học tiếng Đức là dịch nguyên ngữ câu "Bức tranh treo trên tường" thành *Das Bild hängt auf der Wand, trong khi cách diễn đạt chuẩn tắc của tiếng Đức phải là Das Bild hängt an der Wand. Lỗi này xuất phát từ việc đồng nhất từ trên với giới từ auf mà không nhận thức được sự khác biệt trong việc ý niệm hóa bề mặt tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ.

Trong hệ thống ngôn ngữ Đức, các giới từ chỉ không gian xuất hiện với mật độ rất cao trong văn bản; trong đó, giới từ in chiếm tỷ lệ cao nhất với 23% và giới từ auf chiếm 6% tần suất sử dụng. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về từng ngôn ngữ riêng lẻ, song cho đến thời điểm luận án triển khai, vẫn chưa có công trình nào đi sâu so sánh, đối chiếu toàn diện về đặc điểm ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận giữa cặp giới từ không gian auf/ in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Phân tích, mô tả và khái quát hóa về đặc điểm ngữ nghĩa của các giới từ định vị không gian cơ bản của tiếng Đức, trong đó tập trung chủ yếu vào hai giới từ auf/ in. So sánh, đối chiếu những điểm tương đồng, sự khác biệt trong việc sử dụng giới từ chỉ không gian auf/ in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt.
  2. Trên cơ sở đó, đưa ra những tổng kết cụ thể về mức độ tương đồng và khác biệt giữa các giới từ định vị không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt.
  3. Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận của các giới từ định vị không gian auf/ in của người Đức và giới từ trên/ trong của người Việt.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án thực hiện bốn nhiệm vụ:

  1. Phân tích và miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của giới từ chỉ không gian tiếng Đức và tiếng Việt.
  2. So sánh và đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của giới từ auf/ in (bao gồm giới từ chỉ địa điểm tĩnh và giới từ chuyển động) trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt nhằm chỉ ra nét giống và khác nhau về ngữ nghĩa của nhóm giới từ này.
  3. Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận về giới từ định vị không gian của người Đức và người Việt qua mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ.
  4. Nghiên cứu thực tiễn thông qua việc tìm kiếm, thống kê và phân tích các giới từ chỉ địa điểm auf và in trong cuốn tiểu thuyết Die Vermessung der Welt (Daniel Kehlmann) và bản dịch tiếng Việt Đo thế giới (Lê Quang).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các giới từ chỉ không gian trong tiếng Đức và tiếng Việt, tập trung chuyên sâu vào cặp giới từ auf/ in và trên/ trong.
  • Phạm vi nội dung: Các đặc điểm ngữ nghĩa, cơ sở tri nhận và khảo sát thực tiễn việc sử dụng hai giới từ auf/ in trong tương quan đối chiếu với tiếng Việt.
  • Phạm vi ngữ liệu: Ngữ liệu tiếng Đức được thu thập từ các từ điển, sách ngữ pháp tiếng Đức hiện đại (như tài liệu của Werner Hackel 1998, H. Weinrich 2005), các tác phẩm văn học tiếng Đức (Die Blechtrommel của Günter Grass 1959, Das Parfum của Patrick Süskind 1985, Berlin Alexanderplatz của Alfred Döblin 1929) và ngữ liệu khảo sát trọng tâm tại Chương 4 là tác phẩm Die Vermessung der Welt (Daniel Kehlmann, 2006, NXB Rowohlt, Hamburg) cùng bản dịch tiếng Việt Đo thế giới của dịch giả Lê Quang.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới về giới từ định vị không gian

  • Nghiên cứu về ngữ pháp và phân loại hình thức trong tiếng Đức: A. Herskovits (1986) đề xuất khái niệm nghĩa lý tưởng (ideal meaning) mang tính hình học tồn tại trong không gian của các mối quan hệ tôpô như bao hàm, tiếp xúc, giao nhau. Sommerfeldt và Starke (1998) phân loại giới từ theo vị trí đứng trước (in, an, auf), đứng sau (zuliebe, zuwider), hoặc đứng cả trước và sau danh từ (nach, zu). Helbig và Buscha (2001) phân tích mối quan hệ chi phối của giới từ đối với danh từ theo các cách (Dativ, Akkusativ, Genitiv) và phân loại giới từ thành giới từ chính yếu (20 giới từ ngắn, không phái sinh) và giới từ thứ yếu. Weinrich (2005) khảo sát các hình thái kết hợp rút gọn giữa giới từ và mạo từ (am, ans, im, ins, aufs, beim...). Wolfgang Boettcher (2009) nghiên cứu nguồn gốc chuyển hóa của giới từ từ danh từ, động từ, tính từ và trạng từ. Hentschel và Weydt (1990) phân chia giới từ tiếng Đức thành 7 nhóm ngữ nghĩa.
  • Nghiên cứu theo trường phái ngôn ngữ học tri nhận và chức năng: M.A.K. Halliday (1985) đặt giới từ trong hệ thống chức năng tầng bậc ngữ cảnh - ngữ nghĩa - ngữ pháp. G. Leech (1969) cùng Leech và Svartvik (1975) chỉ ra rằng việc lựa chọn giới từ không gian phụ thuộc vào cách con người tri nhận sự vật theo chiều kích không gian (1 chiều, 2 chiều hay 3 chiều). L. Talmy (1983, 2000) phát triển lý thuyết về sơ đồ không gian, cấu trúc ý niệm và mô hình thực thể định vị chuyển động (Trajector - TR / Figure) so với mốc quy chiếu (Landmark - LM / Ground). Svorou (1994) trong The Grammar of Space phân tích sự khác biệt giữa không gian vật lý và không gian nhận thức, đồng thời xác lập 3 miền nguồn ý niệm hóa định hướng không gian. Andrea Tyler và Vyvyan Evans (2003) xây dựng lý thuyết về kịch cảnh không gian (spatial scene), nghĩa nghiệm thân và thuyết đa nghĩa có nguyên tắc (principled polysemy), vận dụng hai tiêu chuẩn là tương quan trải nghiệm (experiential correlation) và tương đồng tri giác (perceptual resemblance). Brenda (2014) khảo sát mạng lưới ngữ nghĩa của giới từ không gian và đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Ba Lan. Coventry và Garrod (2004) đưa ra các yếu tố chức năng phân biệt nghĩa không gian. B. Heine (1997) và Becker - Carroll (1997) làm rõ mô hình định vị trực chỉ và trục nhân thể lấy con người làm trung tâm.

Các hướng nghiên cứu trong nước về giới từ chỉ không gian tiếng Việt

  • Giai đoạn ngữ pháp dịch và cấu trúc từ vựng - ngữ pháp: Đầu thế kỷ XX, các học giả Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Trần Trọng Kim định danh giới từ là "tiếng dùng để liên lạc". Nguyễn Kim Thản (1977) xác định giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ có chức năng nối kết và xếp các từ trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau vào phạm trù "thời vị từ". Diệp Quang Ban và Hoàng Hữu Thung (1992, 1998) xếp giới từ vào nhóm "kết từ chính phụ". Cao Xuân Hạo (1998) coi giới từ là phương tiện đánh dấu quan hệ chính phụ. Nguyễn Cảnh Hoa (2001) thống kê và mô tả hệ thống giới từ đơn trong tiếng Việt. Nguyễn Minh Thuyết (1986) phân tích giới từ thuộc nhóm hư từ chân chính. Đinh Văn Đức (1986, 2001) xem giới từ là hư từ cú pháp và khẳng định các từ chỉ vị trí (trên, dưới, trong, ngoài...) là kết quả của quá trình tri nhận, ý niệm hóa. Vũ Văn Thi (1995) khảo sát chức năng cú pháp của quan hệ từ tiếng Việt. Lê Quang Thiêm (2004) và Đỗ Hữu Châu (1981, 1999) phân tích ngữ nghĩa học từ vựng và nghĩa biểu niệm.
  • Hướng tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận: Nguyễn Lai (1990) nghiên cứu nhóm từ chỉ hướng vận động (ra, vào, lên, xuống...). Lý Toàn Thắng (1993, 2002, 2005, 2008) có các công trình chuyên sâu về mô hình không gian của thế giới, cơ chế tri nhận không gian của người Việt, phân tích bình diện nghĩa của các ý niệm trên - trong, nguyên lý "dĩ nhân vi trung", và xác lập hai chiến lược định vị không gian (trực tiếp và gián tiếp). Các nghiên cứu đối chiếu liên quan gồm có luận án của Lê Thị Lệ Thanh (2001) về từ ngữ thời gian tiếng Việt so sánh với tiếng Đức, và Đặng Thị Hương Thảo (2014) về giới từ định vị chiều trên - dưới tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã phân tích giới từ từ bình diện ngữ pháp truyền thống hoặc khảo sát một số cặp từ định vị không gian trong tiếng Anh - tiếng Việt, song chưa có công trình nào đối chiếu trực tiếp cặp giới từ auf/ in trong tiếng Đức với trên/ trong trong tiếng Việt dưới ánh sáng của ngữ nghĩa học tri nhận và kiểm chứng qua thực tiễn dịch thuật ngữ liệu văn học Đức - Việt. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm làm sáng tỏ các tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận không gian giữa hai ngôn ngữ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  1. Khái niệm về tri nhận và không gian: Tri nhận (cognition) là quá trình xử lý, biến đổi và lưu trữ thông tin diễn ra trong tâm trí thông qua các cấu trúc tinh thần (mô hình khung, kịch cảnh, miền ý niệm). Không gian ngôn ngữ học không đồng nhất hoàn toàn với không gian vật lý tuyệt đối của Newton mà là không gian được tri nhận và khúc xạ có chọn lọc qua hệ thống ngôn ngữ (Levinson, Frawley, Svorou).
  2. Tri nhận nghiệm thân (Embodied Cognition): Khái niệm khẳng định tư duy và hệ thống ý niệm của con người có nguồn gốc sâu xa từ trải nghiệm thể xác (nghiệm thân sinh lý), sự tương tác với môi trường tự nhiên (nghiệm thân tự nhiên) và các quan hệ cộng đồng (nghiệm thân xã hội) (Johnson, Lakoff, Tim Rohrer, Lý Toàn Thắng).
  3. Thuyết kịch cảnh không gian và đa nghĩa có nguyên tắc: Luận án vận dụng mô hình của Tyler và Evans (2003) để phân tích các nghĩa của giới từ từ một nghĩa nguyên thủy (proto-scene) đến các nghĩa phái sinh, dựa trên hai tiêu chuẩn kiểm chứng: bằng chứng ngôn ngữ (xuất hiện sớm, chiếm ưu thế trong mạng ngữ nghĩa, tham gia dạng thức tổ hợp, quan hệ tương hỗ và dự đoán cú pháp) và bằng chứng thực tế.
  4. Ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor): Cơ chế ánh xạ từ miền nguồn (Source Domain) cụ thể sang miền đích (Target Domain) trừu tượng (Lakoff & Johnson 1980, Langacker 1991). Các kiểu dạng ẩn dụ bao gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh truyền (conduit), ẩn dụ định hướng, ẩn dụ vật chứa (container), và ẩn dụ kiến tạo.
  5. Nguyên lý “Dĩ nhân vi trung” và các chiến lược định vị: Sự ý niệm hóa lấy cơ thể con người làm chuẩn quy chiếu ba chiều (trên - dưới, trước - sau, phải - trái). Svorou (1994) và Heine (1997) chỉ ra 3 miền nguồn định vị: bộ phận cơ thể, vật mốc (Landmarks), và hành động di chuyển. Lý Toàn Thắng xác lập hai chiến lược định vị: chiến lược trực tiếp (dựa vào quan hệ không gian trực tiếp giữa hai thực thể) và chiến lược gián tiếp (thông qua một thực thể thứ ba tàng ẩn).
  6. Hệ thống giới từ không gian tiếng Đức: Nhóm 9 giới từ nước đôi (Wechselpräpositionen: an, auf, in, vor, neben, hinter, unter, über, zwischen) kết hợp với cách 3 (Dativ) khi chỉ vị trí tĩnh tại (Wo?) và kết hợp với cách 4 (Akkusativ) khi chỉ phương hướng chuyển động (Wohin?), được biểu diễn qua mô hình khối lập phương của Schröder.
                  +-------------------+
                 /   über (ở trên)   /|
                /                   / |
               +-------------------+  |
               |   auf (trên mặt)  |  |
 vor (trước)   |                   |  | hinter (sau)
               |   in (ở trong)    |  +
               |                   | /
               +-------------------+/
                 unter (ở dưới)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp miêu tả, phân tích, thu thập: Miêu tả đặc điểm hình thức ngữ pháp và phân tích các tầng nghĩa cụ thể, nghĩa khái quát của các giới từ trong từng ngữ cảnh câu.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng quy trình đối chiếu một chiều, xuất phát từ việc miêu tả, phân tích sự mở rộng ngữ nghĩa trên cơ sở nghiệm thân của giới từ auf/ in trong tiếng Đức, sau đó đối chiếu với các từ ngữ tương đương trên/ trong trong tiếng Việt để làm nổi bật nét tương đồng và dị biệt.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân lập các nghĩa tố cần yếu trong cấu trúc nghĩa của giới từ, xác định mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu vật và ý niệm hóa tri nhận.
  • Thủ pháp thống kê phân loại: Thống kê số lượng, tần suất xuất hiện, phân loại các dạng thức kết hợp cú pháp và các trường hợp dịch thuật của auf và in trong ngữ liệu thực tế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Công trình sử dụng tổng cộng 146 tài liệu tham khảo (gồm 62 tài liệu tiếng Việt và 84 tài liệu tiếng nước ngoài). Ngữ liệu phân tích bao gồm các sách ngữ pháp tiếng Đức, tiếng Việt và các tác phẩm văn học nguyên bản tiếng Đức cùng bản dịch tiếng Việt tương ứng đã được xuất bản chính thức.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu giới từ chỉ không gian trong ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi của ngôn ngữ học tri nhận: bản chất của tri nhận, sự phân biệt giữa không gian nhận thức và không gian vật lý, cấu trúc định vị không gian qua các trục đối xứng, và lý thuyết tri nhận nghiệm thân.

Chương này trình bày chi tiết về các mô hình ý niệm hóa không gian, cơ chế ẩn dụ tri nhận, nguyên lý "dĩ nhân vi trung", và các chiến lược định vị không gian. Đồng thời, chương 1 đối chiếu khái niệm giới từ trong ngữ pháp tiếng Đức (từ loại độc lập, không biến hình nhưng chi phối cách của danh từ đi kèm) và tiếng Việt (hư từ chỉ quan hệ cú pháp). Hệ thống 9 giới từ chỉ địa điểm trong tiếng Đức được khảo sát qua mô hình khối lập phương của Schröder trên các trục: trục trước - sau (vor/ hinter), trục trên - dưới (auf/ über/ unter), và trục bên cạnh/ ở giữa (an, neben, zwischen).

Giới từ tiếng Đức Vị trí không gian mô tả Quan hệ tiếp xúc bề mặt Cách ngữ pháp kết hợp
auf Trên bề mặt Có tiếp xúc trực tiếp Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
über Trên, phía trên Không tiếp xúc (cách một khoảng) Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
unter Dưới, phía dưới Dưới bề mặt vật đối chiếu Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
vor Trước Phía trước vật đối chiếu Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
hinter Sau Phía sau vật đối chiếu Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
in Trong Bên trong không gian bao chứa Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)
an Cạnh, sát, trên Tiếp xúc bề mặt thẳng đứng/biên độ Dativ (tĩnh) / Akkusativ (động)

Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa các giới từ chỉ không gian “auf/ in” trong tiếng Đức đối chiếu với tiếng Việt

Chương 2 tập trung phân tích cấu trúc ngữ nghĩa chi tiết của hai giới từ auf và in trong tiếng Đức trong sự so sánh với các phương tiện biểu đạt tương đương của tiếng Việt:

  • Giới từ “auf”:
    • Khi biểu thị không gian tĩnh (đi với Dativ): Auf chỉ vị trí của đối tượng định vị nằm trên và tiếp xúc trực tiếp với bề mặt nằm ngang hoặc mặt phẳng đỡ của đối tượng quy chiếu (Das Buch liegt auf dem Tisch). Luận án phân biệt ranh giới ngữ nghĩa rõ ràng giữa auf (tiếp xúc mặt trên nằm ngang) với über (ở phía trên nhưng không tiếp xúc: Das Bild hängt über dem Tisch) và an (tiếp xúc mặt phẳng đứng: Das Bild hängt an der Wand).
    • Khi biểu thị không gian động (đi với Akkusativ): Auf chỉ sự chuyển động hướng tới và kết thúc bằng việc tiếp xúc trên bề mặt của đối tượng quy chiếu (Er legt das Buch auf den Tisch).
    • Đối chiếu với tiếng Việt: Từ trên trong tiếng Việt có phạm vi biểu đạt rộng hơn auf, có thể dùng cho cả bề mặt nằm ngang (trên bàn), bề mặt thẳng đứng (trên tường), hoặc vị trí cao hơn không tiếp xúc (trên trời).
  • Giới từ “in”:
    • Khi biểu thị không gian tĩnh (đi với Dativ): In chỉ vị trí của thực thể nằm trọn vẹn hoặc một phần bên trong không gian hai chiều hoặc ba chiều có giới hạn/bao bọc (Er sitzt im Zimmer).
    • Khi biểu thị không gian động (đi với Akkusativ): In chỉ hướng chuyển động từ bên ngoài xuyên qua ranh giới để vào bên trong vật chứa (Er geht ins Zimmer).
    • Đối chiếu với tiếng Việt: Từ trong trong tiếng Việt tương đồng với in ở nét nghĩa bao chứa nội tại, nhưng việc sử dụng trong phụ thuộc vào nhận thức về ranh giới không gian đóng hay mở của người Việt.
Tiêu chí so sánh Giới từ tiếng Đức (auf / in) Giới từ / Từ định vị tiếng Việt (trên / trong)
Hình thái học Không biến hình, chi phối cách danh từ (Dativ / Akkusativ). Không biến hình, không có phạm trù cách ngữ pháp.
Biểu đạt Tĩnh / Động Phân biệt qua cách: Dativ (Tĩnh) vs Akkusativ (Động). Phân biệt qua động từ đi kèm (ở trên vs đặt lên trên).
Định vị bề mặt (auf vs trên) Auf chỉ dùng cho mặt phẳng ngang có lực nâng đỡ; mặt phẳng đứng dùng an. Trên bao quát cả mặt phẳng ngang (trên bàn) và mặt phẳng đứng (trên tường).
Định vị bao chứa (in vs trong) In gắn liền với hình học vật chứa (container) 2D/3D chặt chẽ. Trong linh hoạt theo cảm nhận ranh giới không gian tâm lý/xã hội.

Chương 3: Đối chiếu cơ sở tri nhận không gian của giới từ “auf/ in” trong tiếng Đức với tiếng Việt

Chương 3 đi sâu giải thích các hiện tượng ngữ nghĩa dưới góc độ tri nhận luận:

  • Cơ sở tương đồng: Cả người Đức và người Việt đều chia sẻ chung những trải nghiệm nghiệm thân sinh lý cơ bản (tư thế đứng thẳng, tác động của trọng lực trái đất, thị giác định hướng về phía trước). Do đó, cả hai ngôn ngữ đều phát triển các ý niệm không gian cơ sở: tiếp xúc bề mặt bên trên (auf - trên) và nằm trong không gian bao chứa (in - trong).
  • Cơ sở dị biệt:
    • Khái niệm hình thái tiêu chuẩn và tôpô học: Người Đức tri nhận auf dựa trên tương tác lực vật lý (sự nâng đỡ cơ học chống lại trọng lực trên bề mặt phẳng). Ngược lại, người Việt tri nhận trên dựa trên định hướng tuyệt đối của trục tọa độ không gian (vị trí cao hơn hoặc mặt ngoài của vật thể).
    • Khái niệm đường bao và vật chứa: Sự phân chia ranh giới bên trong/bên ngoài của người Đức mang tính hình học rõ nét; trong khi người Việt chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm địa lý, môi trường sinh thái nông nghiệp và cấu trúc xã hội (dẫn đến các cách nói như trên làng, dưới xóm, trong nhà, ngoài sân).
    • Ẩn dụ ý niệm hóa: Sự chuyển dịch từ miền không gian sang miền phi không gian của auf và in thể hiện các mô hình văn hóa riêng biệt (ví dụ: in Gefahr sein tương đương ở trong tình thế nguy hiểm theo ẩn dụ trạng thái là vật chứa).

Chương 4: Khảo sát thực tiễn sử dụng các giới từ “auf” và “in” trong tác phẩm “Đo thế giới” với bản dịch tiếng Việt

Chương 4 kiểm chứng các luận điểm lý thuyết qua việc khảo sát định lượng và phân tích định tính tác phẩm văn học Die Vermessung der Welt của Daniel Kehlmann và bản dịch Đo thế giới của dịch giả Lê Quang.

Các kết quả thống kê và phân tích được tổng hợp qua hệ thống bảng biểu và biểu đồ của luận án:

  • Bảng 4.1: Thống kê các trường hợp bản dịch bị ảnh hưởng bởi khái niệm “hình thái tiêu chuẩn”.
  • Bảng 4.2: Thống kê các trường hợp bản dịch bị ảnh hưởng bởi đặc điểm địa lý.
  • Bảng 4.3: Thống kê các trường hợp bản dịch bị ảnh hưởng bởi khái niệm “đường bao”.
  • Hệ thống biểu đồ (Biểu đồ 4.1 đến 4.7): Luận án phân tích tổng quan tỷ lệ xuất hiện của các cặp giới từ địa điểm auf - trên và in - trong; khảo sát chi tiết tần suất của auf và in trong nguyên bản tiếng Đức; phân tích các bản dịch giới từ chỉ phương hướng chuyển động (Akkusativ) và giới từ chỉ địa điểm tĩnh tại (Dativ) sang tiếng Việt.

Qua khảo sát thực tiễn, luận án chỉ ra các nhóm nguyên nhân dẫn đến sự dịch chuyển ngữ nghĩa và lựa chọn từ ngữ trong bản dịch tiếng Việt:

  1. Ảnh hưởng của khái niệm “hình thái tiêu chuẩn”: Sự khác biệt khi quy ước hình dạng vật thể (mặt phẳng, khối hộp).
  2. Ảnh hưởng của đặc điểm địa lý và không gian sinh tồn: Cách tư duy về độ cao, hướng dòng chảy, vùng miền.
  3. Ảnh hưởng của đặc điểm xã hội: Nhận thức về thứ bậc, không gian sinh hoạt gia đình và cộng đồng.
  4. Ảnh hưởng của khái niệm “đường bao” (boundary): Sự xác định ranh giới không gian kín hay không gian mở.
  5. Sự khác nhau chi tiết khi nhận thức về không gian: Mức độ tri nhận chi tiết về tiếp xúc điểm, tiếp xúc diện hay bao hàm.
  6. Thói quen sử dụng giới từ chỉ địa điểm: Sự chi phối của quán ngữ và thói quen diễn đạt dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đặc điểm giới từ định vị không gian trong tiếng Đức (auf/ in) trong sự đối chiếu với tiếng Việt (trên/ trong) từ ba bình diện: ngữ nghĩa học, ngôn ngữ học tri nhận và ngữ dụng học hành chức.
  • Chứng minh rằng các quy tắc cú pháp và biến cách của giới từ tiếng Đức bắt nguồn sâu xa từ các cơ chế tri nhận nghiệm thân và kịch cảnh không gian của người bản ngữ.
  • Làm sáng tỏ các tương đồng và dị biệt trong mô hình ý niệm hóa không gian giữa người Đức và người Việt, bổ sung tư liệu lý luận cho chuyên ngành ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu và ngữ nghĩa học tri nhận.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp một hệ thống ngữ liệu đối chiếu Đức - Việt chi tiết về giới từ không gian, hỗ trợ giải quyết các khó khăn, nhầm lẫn điển hình của người Việt khi học và sử dụng tiếng Đức.
  • Đưa ra các cứ liệu thực chứng phục vụ cho công tác dịch thuật hai chiều Đức - Việt, giúp dịch giả nhận diện được sự chuyển đổi giữa các mô hình tri nhận không gian để lựa chọn từ ngữ chuẩn xác.
  • Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy ngữ pháp tiếng Đức, từ điển giải thích và từ điển đối chiếu Đức - Việt, Việt - Đức.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới phương pháp giảng dạy giới từ tiếng Đức cho người học Việt Nam: không chỉ giảng dạy quy tắc ngữ pháp hình thức (cách Dativ hay Akkusativ) mà cần kết hợp giải thích cơ chế tri nhận không gian, mô hình tiếp xúc bề mặt và ý niệm hóa vật chứa.
  • Biên soạn các tài liệu bổ trợ ngữ pháp nhấn mạnh vào các cặp đối chiếu dễ gây nhầm lẫn (auf - an - über đối chiếu với trên; in đối chiếu với trong).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát hai giới từ định vị không gian cơ bản là auf và in trong tiếng Đức đối chiếu với trên và trong trong tiếng Việt, chưa bao quát toàn bộ hệ thống 9 giới từ chỉ không gian nước đôi (Wechselpräpositionen) của tiếng Đức.
  • Ngữ liệu khảo sát thực tiễn tại Chương 4 chủ yếu dựa trên một tác phẩm văn học cụ thể (Die Vermessung der Welt / Đo thế giới), do đó phạm vi khảo sát phong cách chức năng còn giới hạn trong ngôn ngữ văn chương.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi đối chiếu sang các giới từ không gian còn lại trong tiếng Đức như an, unter, über, vor, hinter, neben, zwischen đối chiếu với hệ thống từ chỉ vị trí tương ứng trong tiếng Việt.
  • Mở rộng nguồn ngữ liệu khảo sát thực tiễn sang các phong cách chức năng khác như văn bản báo chí, văn bản khoa học - kỹ thuật và ngôn ngữ giao tiếp khẩu ngữ thường nhật.
  • Đi sâu nghiên cứu sự chuyển di ngữ nghĩa của các giới từ không gian sang các miền ý niệm thời gian và các cấu trúc ngữ nghĩa trừu tượng khác.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận ứng dụng trong nghiên cứu đối chiếu giới từ và mô hình không gian.
  • Giảng viên và người học tiếng Đức tại Việt Nam: Sử dụng nội dung Chương 2 và Chương 3 để giải thích bản chất ngữ pháp của cách 3 (Dativ - vị trí tĩnh) và cách 4 (Akkusativ - hướng chuyển động), khắc phục các lỗi dịch chuyển tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ.
  • Biên dịch viên tiếng Đức - tiếng Việt: Tham khảo các phân tích tại Chương 4 về sự tương đương ngữ nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển ngữ giới từ không gian trong tác phẩm văn học.
  • Người làm công tác biên soạn từ điển và giáo trình: Sử dụng khối ngữ liệu và các phân loại nghĩa vị để hoàn thiện các mục từ giới từ trong từ điển đối chiếu Đức - Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao người học tiếng Việt khi học tiếng Đức thường mắc lỗi dùng sai giới từ trong câu "Bức tranh treo trên tường" (Das Bild hängt an der Wand)?

Người Việt có thói quen đồng nhất từ trên với giới từ auf. Tuy nhiên, trong cơ chế tri nhận của người Đức, auf đòi hỏi điều kiện tiếp xúc trên một bề mặt nằm ngang có lực nâng đỡ (support). Đối với bề mặt thẳng đứng như bức tường, người Đức tri nhận đó là sự tiếp xúc biên độ/sát bề mặt dọc nên bắt buộc phải sử dụng giới từ an.

2. Sự phân biệt giữa cách 3 (Dativ) và cách 4 (Akkusativ) khi đi cùng giới từ “auf” và “in” trong tiếng Đức phản ánh ý nghĩa không gian nào?

Sự kết hợp này phản ánh sự phân biệt giữa trạng thái tĩnh tại và sự chuyển động có định hướng:

  • Đi với Dativ (cách 3): Trả lời cho câu hỏi Wo? (Ở đâu?), biểu thị vị trí tĩnh tại của đối tượng tại một địa điểm (in der Schule, auf dem Tisch).
  • Đi với Akkusativ (cách 4): Trả lời cho câu hỏi Wohin? (Đi đâu?), biểu thị phương hướng chuyển động làm thay đổi vị trí của đối tượng từ ngoài vào trong hoặc hướng tới bề mặt (in die Schule, auf den Tisch).

3. Tần suất xuất hiện của hai giới từ “in” và “auf” trong văn bản tiếng Đức được ghi nhận như thế nào trong luận án?

Theo số liệu được luận án dẫn dụng, trong hệ thống tiếng Đức, giới từ in là giới từ có tần suất sử dụng cao nhất, chiếm 23% tổng số lượng giới từ xuất hiện trong mọi văn bản; giới từ auf đứng ở vị trí tiếp theo với tần suất chiếm 6%.

4. Tác phẩm văn học nào được lựa chọn làm ngữ liệu khảo sát thực tiễn tại Chương 4 của luận án?

Luận án lựa chọn tác phẩm tiểu thuyết Die Vermessung der Welt của nhà văn Đức Daniel Kehlmann (xuất bản năm 2006 bởi NXB Rowohlt, Hamburg) và bản dịch tiếng Việt Đo thế giới của dịch giả Lê Quang để tiến hành thống kê định lượng và phân tích các trường hợp dịch thuật giới từ chỉ địa điểm.

5. Khái niệm kịch cảnh không gian (spatial scene) và thuyết đa nghĩa có nguyên tắc do những tác giả nào đề xuất được luận án ứng dụng?

Khái niệm kịch cảnh không gian (spatial scene) và thuyết đa nghĩa có nguyên tắc (principled polysemy) được hai nhà ngôn ngữ học tri nhận Andrea Tyler và Vyvyan Evans đề xuất trong công trình nghiên cứu The Semantics of English Prepositions: Spatial Senses, Embodied Meaning and Cognition (2003, Cambridge University Press).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cặp giới từ không gian auf/ in trong tiếng Đức trong sự đối chiếu với trên/ trong trong tiếng Việt dưới góc độ ngữ nghĩa học tri nhận và khảo sát thực tiễn dịch thuật. Thông qua việc phân tích cấu trúc ngữ nghĩa, mô hình kịch cảnh không gian và nghiệm thân, luận án đã làm rõ cơ chế chi phối ngữ pháp của các giới từ chỉ địa điểm tiếng Đức cũng như những điểm tương đồng và dị biệt trong tư duy không gian giữa hai dân tộc. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị lý luận cho ngành ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, đồng thời đóng góp khối ngữ liệu thực chứng hữu ích phục vụ giảng dạy tiếng Đức và thực hành dịch thuật văn học Đức - Việt.