phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết. Chƣơng này, luận án trình bày khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ và TNTS, hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết chung về thuật ngữ, vấn đề cấu tạo từ tiếng Anh và tiếng Việt, ngôn ngữ học đối chiếu. Đây chính là khung lý thuyết cho việc nghiên cứu các đặc điểm TNTS tiếng Anh và tiếng Việt. Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt.
Chƣơng này luận án tập trung làm sáng tỏ đơn vị cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt trên các phƣơng diện: số lƣợng yếu tố cấu tạo, phƣơng thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp, đặc trƣng từ loại, mô hình cấu tạo. Trên cơ sở, rút ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo giữa TNTS tiếng Anh và tiếng Việt. Chƣơng 3: Con đường hình thành và đặc điểm định danh thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt. Chƣơng này luận án làm rõ các con đƣờng hình thành nên các thuật ngữ.
Về mặt định danh, trên cơ sở lý thuyết định danh ngôn ngữ và thuật ngữ, luận án tập trung tìm hiểu các phạm trù định danh và các đặc trƣng định danh đƣợc chọn để định danh của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt. Trên cơ sở đó, rút ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt về con đƣờng hình thành và đặc điểm định danh giữa thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt Chƣơng 4: Tương đương thuật ngữ thủy sản Anh - Việt và định hướng chuẩn hóa. Đây là chƣơng luận án tìm hiểu về các tƣơng đƣơng dịch thuật của các TNTS tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời đƣa ra các đề xuất để chuẩn hóa các TNTS tiếng Việt chƣa đạt chuẩn. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Chƣơng này, phần tổng quan, luận án khái quát lại những nét chính về lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và Việt Nam cũng nhƣ tình hình nghiên cứu về TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
Phần cơ sở lý luận, luận án hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về thuật ngữ, TNTS, vấn đề cấu tạo từ và ngôn ngữ học đối chiếu. Đây là khung lý thuyết cần thiết cho việc tìm hiểu các đặc điểm của TNTS ở những chƣơng tiếp theo. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ 1.
Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài Trên thế giới, thuật ngữ đƣợc hình thành từ rất sớm. Do vậy, các nghiên cứu về thuật ngữ cũng xuất hiện khá sớm. Cụ thể, khoảng kỷ 18 đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ khoa học của một số tác giả nhƣ: Carl von Linné, 1736; Beckmann, 1780; A.de Fourcoy, 1789, William Wehwell, 1840,… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu thời kỳ đầu này thƣờng tập trung tìm hiểu vấn đề xây dựng thuật ngữ và đề ra các nguyên tắc xây dựng cho một số hệ thuật ngữ cụ thể. Có thể nói, các nghiên cứu về thuật ngữ thời kỳ này tuy chỉ mang tính chất khám phá, sơ khai nhƣng lại rất quan trọng vì đó là những nghiên cứu mang tính mở đƣờng, khai lối cho công tác nghiên cứu thuật ngữ.
Công tác nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đƣợc định hình rõ nét trong thế kỷ 20. Từ những năm 1930 trở đi, khoa học nghiên cứu về thuật ngữ ngày càng sáng rõ và có những bƣớc phát triển mạnh mẽ khi xuất hiện một loạt các nghiên cứu về thuật ngữ của các học giả ngƣời Áo, Liên Xô (cũ) và Cộng hòa Séc. Tác giả Auger (1998) đã tổng kết quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới thành ba xu hƣớng chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ [dẫn theo 121, tr. Trong 3 hƣớng nghiên cứu trên, đáng chú ý là hƣớng nghiên cứu: thuật ngữ được 8 nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ.
Bởi đây là hƣớng nghiên cứu thuật ngữ dƣới góc độ ngôn ngữ học, đồng thời hƣớng nghiên cứu này gắn liền với ba trƣờng phái tiêu biểu trong nghiên cứu thuật ngữ đƣợc coi là lớn nhất trên thế giới, gồm Áo, Xô Viết và Cộng hòa Séc. (i) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Áo Đại diện tiêu biểu của Áo đó là E.Wuster (1898-1977), ngƣời không chỉ mờ đƣờng cho việc nghiên cứu thuật ngữ của Áo mà còn là ngƣời kiến tạo nên diện mạo của công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỷ 20. Trong tác phẩm nối tiếng của mình: Lí luận chung về thuật ngữ (1931), Wuster xác lập các phƣơng pháp nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng lên các nguyên tắc cho việc nghiên cứu thuật ngữ, chỉ ra những điểm chính của phƣơng pháp xử lý dữ liệu thuật ngữ thông qua việc đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học của hệ thống tên gọi của lĩnh vực kỹ thuật. Có thể nói, các phƣơng pháp nghiên cứu thuật ngữ mà Wuster đề ra cũng là các phƣơng pháp nghiên cứu thuật ngữ của trƣờng phái này, đồng thời có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến việc nghiên cứu thuật ngữ của các học giả sau này.
Với tác phẩm nổi tiếng này, Wuster đã đƣợc các nhà nghiên cứu đánh giá nhƣ là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng. Có thể thấy, công tác nghiên cứu thuật ngữ của Áo đã xây dựng đƣợc hệ thống các nguyên tắc và các phƣơng pháp tạo nền tảng vững chắc cho việc nghiên cứu thuật ngữ cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đặc điểm quan trọng nhất của trƣờng phái này là tập trung vào các khái niệm, bản chất và hƣớng việc nghiên cứu thuật ngữ vào vấn đề chuẩn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu về chuyên môn trong việc đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể truyền tải dễ dàng kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn. Sau này, họ đã xuất bản một loạt các tài liệu về công tác chuẩn hóa thuật ngữ.
Hầu hết các nƣớc Trung Âu và Bắc Âu đi theo hƣớng nghiên cứu của trƣờng phái này, chẳng hạn: Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch,. (ii) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc Nói tới công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc, trƣớc tiên phải nhắc đến L.Drodz, đại diện tiêu biểu của trƣờng phái này. Drodz chính là ngƣời đặt nền móng cho việc nghiên cứu thuật ngữ theo cách tiếp cận ngôn ngữ học chức năng 9 của trƣờng phái ngôn ngữ học Praha. Do đó, trong công tác nghiên cứu của trƣờng phái này, họ đặc biệt chú trọng đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ nói riêng.
Theo trƣờng phái này, các ngôn ngữ chuyên ngành mang phong cách chức năng nghề nghiệp tồn tại bên cạnh các phong cách khác. Và thuật ngữ chính là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp. Thuật ngữ ra đời đề nhằm phục vụ cho chức năng đó. Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc cũng có điểm tƣơng đồng với Áo bởi mối quan tâm nhất của họ cũng chính là vấn đề chuẩn hóa, chỉnh lý ngôn ngữ chuyên ngành và thuật ngữ.
(iii) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết Chịu ảnh hƣởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của của Wuster ngay từ thời kỳ đầu, mối quan tâm lớn nhất trong công tác nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết cũng là vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ. Ngay sau khi công trình nổi tiếng của Wuster đƣợc dịch sang tiếng Nga, phong trào nghiên cứu thuật ngữ càng phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu. Do đó, từ những năm 1930 trở đi, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô phát triển rất mạnh mẽ và đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn. Theo tổng kết của Nguyễn Văn Lợi (2010) về lĩnh vực thuật ngữ trong thế kỷ 20, Nga đã công bố 1600 bài báo; vài nghìn cuốn từ điển và rất nhiều giáo trình, sách chuyên khảo; luận án nghiên cứu về thuật ngữ.
Trong đó rất nhiều công trình, sách,. đã đƣợc dịch sang nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nƣớc ngoài, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt rất nhiều hội thảo đã đƣợc tổ chức để bàn về những vấn liên quan đến công tác nghiên cứu thuật ngữ bao gồm cả công tác nghiên cứu thuật ngữ về mặt lý thuyết (chẳng hạn nhƣ vấn đề lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ,.) và công tác nghiên cứu thuật ngữ về mặt ứng dụng (chẳng hạn nhƣ những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ, vấn đề biên soạn từ điển thuật ngữ,. Đặc biệt, công tác nghiên cứu, phát triển thuật ngữ của Xô Viết đã có sự ảnh hƣởng mạnh mẽ đến giới ngôn ngữ học, trong đó có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đã tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu thuật ngữ ngay từ thời kỳ đầu, chẳng hạn nhƣ A.Vinokur,… 10 Đại diện tiêu biểu của trƣờng phái này là D.
Ông là ngƣời đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại và là ngƣời có ảnh hƣởng lớn đến công tác phát triển thuật ngữ về mặt lý thuyết. Có thể thấy, phong trảo nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt trong thế kỷ 20 với ba trƣờng phái nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu: Áo, Nga - Xô Viết và Áo. Họ cùng chung quan điểm nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học. Xem thuật ngữ chính là một phƣơng tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn.
Từ đó, họ đã xác lập lên hệ thống cơ sở lý thuyết và những nguyên lý mang tính phƣơng pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ. Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam Quá trình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn theo tiến trình lịch sử nhƣ sau: (i) Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945 Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử nên thuật ngữ khoa học ra đời khá muộn. Đầu thế kỷ 20 thuật ngữ mới xuất hiện. Tuy nhiên, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam cũng đƣợc quan tâm, chú ý ngay sau đó.
Từ những năm 1939 trở đi, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam chính thức đƣợc định hình rõ nét.