mở đầu cho xu hướng nghiên cứu chuyên sâu hệ thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể. Tiếp theo đó, có các luận án tiến sĩ sau: So sánh cách cấu tạo thuật ngữ kinh t thương mai trong ti ng Nhật và ti ng Việt hiện đại (Nguyễn Thị Bích Hà, 2000), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông ti ng Việt (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005), Khảo sát thuật ngữ y học ti ng Anh và cách phiên chuyển sang ti ng Việt (Vương Thị Thu Minh, 2006), So sánh cấu tạo đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính-k toán-ngân hàng ti ng Anh và ti ng Việt (Nguyễn Thị Tuyết, 2011), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ sỡ hữu trí tuệ ti ng Việt (Mai Thị Loan, 2012), Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên ti ng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán – Cơ – Tin học – Vật lí) (Ngô Phi Hùng 2013), Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong ti ng Việt (Vũ Thị Thu Huyền, 2013), Đối chi u thuật ngữ du lịch Việt –Anh (Lê Thanh Hà, 2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí ti ng Việt (Quách Thị Gấm, 2015), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học hình sự ti ng Việt (Nguyễn Quang Hùng, 2016), Đối chi u thuật ngữ phụ sản trong ti ng Anh và ti ng Việt (Phí Thị Việt Hà, 2017), Đối chi u thuật ngữ âm nhạc Việt Nam (Nguyễn Thanh Dung, 2017), Đối chi u thuật ngữ hành chính Việt- nh (Vũ 14 Thị Y n Nga, 2018), Đối chi u thuật ngữ cơ khí trong ti ng Anh và ti ng Việt (Trần Ngọc Đức, 2018), Đối chi u thuật ngữ dầu khí Anh-Việt (Nguyễn Thị Thu Hà, 2019), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật ti ng Việt (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2019),…Các luận án tập trung chủ yếu vào nội dung phân tích đặc điểm cấu tạo, những con đường hình thành của thuật ngữ, đặc điểm định dạnh của các hệ thuật ngữ, khảo sát và tìm ra các thuật ngữ chưa đạt chuẩn theo các tiêu chuẩn của thuật ngữ, từ đó đề xuất phương hướng chuẩn hóa và xử lí các thuật ngữ không chuẩn này, đối chiếu thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện cấu tạo và định danh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ, tiến hành khảo sát cách chuyển dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt để tìm ra các kiểu tương đương trong dịch thuật ngữ. Như vậy, nhìn lại chặng đường phát triển của thuật ngữ Việt Nam, rõ ràng sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt gắn với xu hướng phát triển chung của thuật ngữ thế giới và những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển xã hội Việt Nam. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội trên th giới Tháng 6 năm 1926, LeRoy E. Bowman đã có bài viết Thuật ngữ Công tác xã hội: Những thuật ngữ được sử dụng thịnh hành (The Terminology of Social Workers: Vogues in Social Work Terms) (Tạp chí American Speech, Số 9, tháng 6/ 1926). Bài viết chỉ r ng trong CTXH cũng như các lĩnh vực khoa học khác đều có những từ hay cụm từ được dùng thịnh hành (vogues). Những người nói cùng ngôn ngữ một ngành khoa học không những cùng xây dựng khái niệm gốc mà còn làm giàu các thành phần, lớp nghĩa rộng của khái niệm đó do yếu tố văn hóa khác nhau của từng dân tộc.
Bài báo chủ yếu tập trung vào việc phân tích một số từ hay cụm từ được sử dụng thịnh hành trong ngành CTXH. Ngôn ngữ, tưởng, kinh nghiệm có sức mạnh gắn kết giữa những cộng đồng nhân viên CTXH sử dụng cùng một hệ ngôn ngữ ngành chung. Điều này được ví như ngôn ngữ tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa cộng đồng người cùng một quốc gia. Boehm là một nhà giáo dục công tác xã hội lỗi lạc đã từng được vinh danh và nhận rất nhiều giải thưởng do Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội quốc gia, trường Đại học Công tác xã hội Tulane, Hội đồng giáo dục Công tác xã hội, v.v… Năm 1954 ông có bài viết Thuật ngữ Công tác xã hội: Nỗ lực làm rõ lý thuy t trên Tạp chí The Social Service Review (Vol.
Bài báo chỉ ra r ng trong Công tác xã hội, lý thuyết ngành được phát triển và làm phong ph , đa dạng bởi sự thay đổi về mặt nghĩa của các khái niệm cũ dưới sự tác động của những trải nghiệm và kiến thức mới của nghành chứ không phổ biến ở việc tạo ra những khái niệm mới. Bài báo đã tập trung khảo sát các thuật ngữ để đánh giá mặt nghĩa của các thuật ngữ, xem xét các thuật ngữ được sử dụng không thống nhất, cố gắng làm rõ những thay đổi của lớp nghĩa của các thuật ngữ trong công tác xã hội trong xã hội ngày nay. Đây là một nhiệm vụ khó khăn bởi nó vượt qua ranh giới của một bài báo và cần sự tập trung nỗ lực của nhiều thành viên trong nghề. Bài báo này được thiết kế để bổ sung tài liệu các khái niệm hiện có trong lĩnh vực CTXH thông qua thực hành CTXH trong thực tế.
Hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng : Thứ nhất đó là đánh giá CTXH chống lại ma trận xã hội mà nó là một phần và ảnh hưởng đến phạm vi và chức năng của nó. Điều này có tính đến nghĩa mới mà thuật ngữ bắt nguồn từ điều kiện xã hội mới; Thứ hai đó là việc áp dụng phương pháp điều tra logic đối với định nghĩa các thuật ngữ. Điều này bảo vệ tính hợp lí của kết quả nghiên cứu. Năm 2003 nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ Đức Zhigunova, Zhanna Gennadievna đã bảo vệ thành công công trình nghiên cứu “Thuật ngữ Công tác xã hội ti ng nh đồng đại và lịch đại” tại Nga.
Nghiên cứu này là một mô tả toàn diện về sự hình thành, phát triển và hiện trạng của thuật ngữ công tác xã hội tiếng Anh. Xác định thuật ngữ quốc tế trong hệ thuật ngữ CTXH tiếng Anh, mô tả cấu trúc chính, khảo sát hiện tượng đồng nghĩa của các thuật ngữ trong lĩnh vực này. Năm 2005, tại Nga, nghiên cứu sinh Bolshak, Alla Viktorovna ngành Ngôn ngữ đã bảo vệ thành công đề tài Cơ sở chức năng ngữ nghĩa của c c thuật ngữ C ng t c x hội: Trên nền ngữ liệu ti ng nh và ti ng Nga. Công trình tập trung 16 các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau: phân tích các quan điểm khoa học và triết học khác nhau về định nghĩa bản chất của thuật ngữ trên cơ sở phương pháp tiếp cận lịch đại; xem xét các tính năng của thuật ngữ CTXH như một mô hình thông tin nhận thức về sự thể hiện tri thức khoa học; xác định các yếu tố xã hội và đạo đức ảnh hưởng đến việc diễn giải các thuật ngữ công tác xã hội ở tất cả các giai đoạn hoạt động của chúng; mô tả các đặc điểm của sự hình thành bộ máy thuật ngữ của CTXH trong bối cảnh tiếp cận nhân chủng học; phân tích các bản dịch tài liệu khoa học về công tác xã hội và chứng minh các biến thể của mô tả từ vựng của thuật ngữ; nghiên cứu cách hình thành từ vựng, ngữ nghĩa, hình thái học của các thuật ngữ CTXH tiếng Nga và tiếng Anh.
Năm 2011, luận án tiến sĩ Đặc điểm thuật ngữ Công tác xã hội ti ng Anh trong quốc gia không đồng nhất ngôn ngữ của nghiên cứu sinh Petrashova, Tamara Georgievna ngành Ngôn ngữ Đức cũng đã được bảo vệ thành công tại Nga. Công trình nghiên cứu các biến thể của thuật ngữ CTXH tiếng Anh. Đối tượng nghiên cứu là các thuật ngữ CTXH tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Anh ở Anh, Mỹ, Canada, Úc. Theo tác giả, việc hiểu một cách đầy đủ, dịch thuật và giao tiếp chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH bị cản trở rất nhiều bới các biến thể này.
Công trình đã đề xuất các cách thức để thay đổi thuật ngữ trong bối cảnh các cộng đồng Anh ngữ khác nhau. Luận án Thuật ngữ Bảo trợ xã hội của nghiên cứu sinh Nechuikina E. dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A. Pidzhakov cũng được bảo vệ năm 2008.
Tác giả phân tích các thuật ngữ được sử dụng trong quá trình điều chỉnh pháp lý về bảo trợ xã hội, chứng minh sự cần thiết thống nhất hệ thuật ngữ trong lĩnh vực này và đưa ra phương hướng thống nhất. Thuật ngữ C ng t c x hội: cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng - Luận án của nghiên cứu sinh Olga Bursina dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư V. Eliseev, bảo vệ năm 2014, nghiên cứu phân tích hệ thuật ngữ CTXH ở các mặt từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa. Công trình nghiên cứu xem xét các vấn đề của thuật ngữ hiện đại là điều kiện khoa học và l thuyết cho việc nghiên cứu các thuật ngữ CTXH.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thuật ngữ CTXH vượt ra khỏi phạm vi sử dụng chuyên 17 biệt, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực thông qua phương tiện thông tin và được làm giàu bởi các thuật ngữ của các lĩnh vực tri thức khác như là kết quả của sự tương tác chặt chẽ với lĩnh vực CTXH. Các thuật ngữ liên ngành CTXH gồm có: y học, tâm lí học, xã hội học, luật, kinh tế. Đối với bất kì ngành khoa học nào, cuốn bách khoa toàn thư của ngành đó được xem là cẩm nang căn bản để các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, người sử dụng có được sự thống nhất trong các khái niệm thuộc ngành. Việc nghiên cứu xây dựng bách khoa thư CTXH cũng được các nhà khoa học quan tâm như là một trong những nhiệm vụ ưu tiên trong phát triển các vấn đề lý thuyết của ngành.
Có thể nhắc tới các cuốn Bách khoa thư CTXH như: B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng Anh của Tổ chức Russell Sage năm 1960, B ch khoa thư C ng t c x hội Ấn Độ ti ng Anh của tác giả S. Radhakrishnan năm 1968, B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng Anh của Morris, Robert năm 1977, nhà xuất bản New York, National Association of Social Workers, B ch khoa thư phúc lợi xã hội Nhật – Anh của Shōji Yōko năm 1999, B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng nh của Terry Mizrahi và Larry E.