Tổng quan luận án

Tiếng Việt là một ngôn ngữ quốc gia thống nhất trên toàn lãnh thổ, song bên cạnh tính thống nhất đó luôn tồn tại những dị biệt sâu sắc giữa các phương ngữ và thổ ngữ ở từng vùng miền. Trong bức tranh phương ngữ học tiếng Việt, phương ngữ Nghệ Tĩnh từ lâu đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu ngôn ngữ. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án này được thực hiện, chưa có công trình chuyên biệt nào đi sâu khảo sát, miêu tả một cách toàn diện và có hệ thống về ngữ âm của tiếng địa phương huyện Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh). Tiếng Lộc Hà thuộc phương ngữ Nghệ Tĩnh nhưng lại mang nhiều nét khác lạ so với các phương ngữ lân cận và ngôn ngữ toàn dân. Cảm nhận thính giác dân gian cũng như các ghi nhận trong nghiên cứu văn hóa, lịch sử đều chỉ ra rằng giọng nói của cư dân Lộc Hà có cao độ cao hơn hẳn nhiều vùng khác tại Nghệ Tĩnh; đồng thời nội bộ huyện có sự phân hóa ngôn ngữ cục bộ giữa các làng, xã. Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn là việc thiếu vắng một công trình thực nghiệm ngữ âm chuyên sâu nhằm số hóa, đo đạc và miêu tả hệ thống ngữ âm của địa bàn này.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Miêu tả những đặc điểm ngữ âm – âm vị học của tiếng Lộc Hà bao gồm hệ thống phụ âm đầu, hệ thống vần và hệ thống thanh điệu.
  2. Chỉ ra những đặc điểm tương đồng và khác biệt về ngữ âm giữa tiếng Lộc Hà với hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ Hà Tĩnh.

Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tiến hành điều tra điền dã thu thập tư liệu ngữ âm một số thổ ngữ tiêu biểu trên địa bàn huyện Lộc Hà.
  2. Xây dựng cơ sở dữ liệu ngữ âm các thổ ngữ Lộc Hà.
  3. Phân tích tư liệu ngữ âm tiếng Lộc Hà: a) Phân tích bằng cảm thụ thính giác các đặc điểm ngữ âm – âm vị học các thổ ngữ Lộc Hà; b) Phân tích bằng các phần mềm máy tính đặc điểm ngữ âm – âm vị học các thổ ngữ Lộc Hà.
  4. Miêu tả hệ thống ngữ âm phụ âm đầu, hệ thống vần và hệ thống thanh điệu các đặc điểm ngữ âm – âm vị học của các thổ ngữ Lộc Hà.
  5. Xác định các đặc điểm giống và khác nhau giữa hệ thống phụ âm đầu, vần các thổ ngữ Lộc Hà trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ Nghệ Tĩnh.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống ngữ âm tiếng Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh) được xem xét trên cả ba thành phần cấu tạo âm tiết: hệ thống phụ âm đầu, hệ thống vần và hệ thống thanh điệu.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các khía cạnh địa bàn, cộng tác viên và nguồn dữ liệu:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 4 điểm điều tra tiêu biểu đại diện cho vùng địa lý gần biển và xa biển của huyện Lộc Hà, bao gồm các xã: An Lộc, Thịnh Lộc, Thạch Châu và Thạch Kim.
  • Tiêu chuẩn cộng tác viên: Lựa chọn 24 cộng tác viên (12 nam và 12 nữ) sinh ra và cư trú liên tục từ 2 đến 3 đời tại địa phương, trong độ tuổi từ 30 đến 50, không đi làm ăn xa nhằm bảo đảm phát ngôn lưu giữ chất giọng bản địa, không bị pha tạp.
  • Dữ liệu âm thanh: Thu thập 24 tệp âm thanh định dạng .wav với tổng dung lượng ghi âm là 26 MB, bao gồm hai hình thức phát ngôn: đọc 2 bảng từ âm tiết tách biệt và phát ngôn lời nói tự nhiên.
Điểm điều tra (ĐĐT) Đại diện địa lý Số lượng cộng tác viên Cơ cấu giới tính Độ tuổi Dữ liệu thu thập
Xã Thịnh Lộc Vùng gần biển 6 người 3 Nam, 3 Nữ 30 - 50 tuổi 6 file .wav, bảng từ và lời nói tự nhiên
Xã Thạch Kim Vùng ven biển 6 người 3 Nam, 3 Nữ 30 - 50 tuổi 6 file .wav, bảng từ và lời nói tự nhiên
Xã An Lộc Vùng xa biển 6 người 3 Nam, 3 Nữ 30 - 50 tuổi 6 file .wav, bảng từ và lời nói tự nhiên
Xã Thạch Châu Vùng đồng bằng / trung tâm 6 người 3 Nam, 3 Nữ 30 - 50 tuổi 6 file .wav, bảng từ và lời nói tự nhiên

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt trong luận án được phân tích theo hai nhóm học giả: quốc tế và trong nước.

Đối với các nghiên cứu của học giả nước ngoài, luận án chỉ ra ba khuynh hướng tiếp cận chính:

  1. Khuynh hướng phân chia các vùng phương ngữ: L. Cadière (1902) trong công trình Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ miền thượng Trung kỳ và phương ngữ miền hạ Trung kỳ) mặc nhiên phân chia tiếng Việt thành bốn vùng: thượng Trung kỳ (từ bắc Nghệ An đến Huế), hạ Trung kỳ (từ đèo Hải Vân đến nam Bình Thuận), Bắc kỳ và Nam kỳ. H. Maspero (1912) chia tiếng Việt thành 2 vùng là phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, cho rằng phương ngữ Nam có gốc từ miền Bắc di cư vào. I. Bustrov (1970) cùng M. Gordina & I. Bustrov (1976) chia thành 2 vùng lấy ranh giới phía nam Quảng Trị, coi tiếng Huế là vùng đệm dựa trên sự khác biệt của hệ thống âm cuối. Ngược lại, L. Thompson (1959) trong Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng không nên chia ranh giới phương ngữ cứng nhắc vì tồn tại nhiều trạng thái chuyển tiếp giữa các vùng đô thị.
  2. Khuynh hướng gắn với tìm hiểu lịch sử tiếng Việt: L. Cadière đối chiếu cách đọc từ Hán - Việt ở miền Trung với phương ngữ tiếng Trung. H. Maspero (1912) dựa trên ngữ âm lịch sử các âm đầu, đối chiếu tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Hán và chữ Nôm trong từ điển của Alexandre de Rhodes, từ đó xếp tiếng Việt vào họ Thái. Trái lại, A.G. Haudricourt (1953, 1954) qua hai bài báo Vị trí của Tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á và Về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt đã bác bỏ luận điểm của H. Maspero, chứng minh tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á; quan điểm này tiếp tục được M. Ferlus (1975, 1979) củng cố.
  3. Khuynh hướng miêu tả đặc điểm ngữ âm - từ vựng cục bộ: Le Van Ly (1948) khảo sát thổ ngữ Phát Diệm (Ninh Bình); M.B. Emeneau (1951) nghiên cứu phương ngữ Vinh; M. Harvey & Taylor (1962) miêu tả thanh điệu Huế bằng thính giác; M. Ferlus (1995) mô tả tiếng Vinh và thổ ngữ Cao Lao Hạ (Quảng Bình); M. Alves & Nguyen Duy Huong (1998) nghiên cứu thổ ngữ Thanh Chương; Andre Hoa Pham (2005) nghiên cứu thanh điệu Nghi Lộc; Honda Koichi (2006, 2008) nghiên cứu F0 và thức tạo thanh vùng Nghệ Tĩnh ven sông Lam; L. Thompson (1959, 1965) mô tả 22 phụ âm đầu tiếng Sài Gòn và khảo sát tiếng Đà Nẵng, Trà Vinh; M. Gordina (1965) và I. Bustrov (1976) thực nghiệm thanh điệu Đà Nẵng; Shimizu Masaki (2013) nghiên cứu biến đổi âm cuối gốc lưỡi ở Quảng Nam. Về mặt xã hội học, có các công trình của Luong Van Huy (2000), M. Brunelle (2006) và M. Brunelle phối hợp Stefanie Jannedy (2007) về tri giác thanh điệu tiếng Việt.

Đối với các tác giả trong nước, các nghiên cứu tập trung vào các hướng:

  • Phân vùng phương ngữ: Công trình Tiếng Việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học) của Hoàng Thị Châu (1989, 2004) xác lập ba vùng phương ngữ lớn: phương ngữ Bắc (từ Bắc Bộ đến ranh giới Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân) và phương ngữ Nam (từ đèo Hải Vân trở vào). Hướng nghiên cứu này còn có sự tham gia của Hồng Giao (1957), Nguyễn Bạt Tụy (1961), Nguyễn Đình Hòa (1962), Hoàng Phê (1963), Nguyễn Văn Tu (1968), Đỗ Tiến Chung (1981).
  • Nghiên cứu phương ngữ gắn với lịch sử tiếng Việt: Trần Trí Dõi (1991) chỉ ra sự tương ứng giữa thanh điệu Cửa Lò và các ngôn ngữ Việt - Mường; Võ Xuân Trang (1997); Nguyễn Văn Nguyên (2003); Nguyễn Văn Lợi (2009) dựa vào thanh điệu Xứ Đoài (Thạch Thất) để làm rõ quan hệ tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Mường.
  • Phương ngữ gắn với chuẩn hóa ngôn ngữ và nhà trường: Nguyễn Trí Niên và Nguyễn Phan Cảnh (1961), Hoàng Phê (1975), Nguyễn Thiện Chí (1981), Trương Văn Sình (1981), Nguyễn Văn Ái (1981), Phạm Văn Hảo (1981), Hồng Dân (1981), Vũ Bá Hùng (1994).
  • Phương ngữ trong đời sống, văn học, giáo dục: Ngô Ngọc Bích Tiên (1968), Hoàng Thị Châu (1970), Vũ Kim Bảng (2006, 2008), Nguyễn Quang Hồng (1981), Vũ Bá Hùng (1980), Hoàng Tuệ (1982), Trịnh Sâm (1983).
  • Phương ngữ học xã hội và biến đổi đô thị: Hoàng Thị Châu (1972), Trần Thị Thìn (1981), Võ Xuân Trang (1981), Trần Thị Ngọc Lang (1986), Trịnh Cẩm Lan (2007) khảo sát sự biến đổi ngữ âm của cư dân Nghệ Tĩnh chuyển cư đến Hà Nội.
  • Khảo sát các vùng cụ thể: Phương ngữ Nam được khảo sát bởi Nguyễn Bạt Tụy, Nguyễn Kim Thản, Vương Hữu Lễ, Cao Xuân Hạo, Huỳnh Công Tín. Phương ngữ Trung có Phạm Văn Hảo (1991), Võ Xuân Quế (1993), Võ Xuân Trang (1997), Hoàng Trọng Canh (2001), Nguyễn Văn Lợi (2002), Nguyễn Văn Nguyên (2003), Trần Trí Dõi (2007). Phương ngữ Bắc có Vũ Bá Hùng (1980), Hoàng Cao Cương (1986) với hệ 8 thanh và khái niệm sinh âm, Nguyễn Văn Lợi & J. Edmondson với khái niệm chất giọng.

Vị trí của luận án: Luận án định vị tại điểm giao thoa giữa phương ngữ học địa lý và ngữ âm học thực nghiệm. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống tư liệu về tiếng Lộc Hà – một địa bàn thuộc phương ngữ Trung còn lưu giữ nhiều cứ liệu ngữ âm cổ nhưng chưa từng có công trình nào miêu tả định lượng các thông số âm học của phụ âm đầu, vần và thanh điệu bằng phần mềm chuyên dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm cốt lõi của phương ngữ học, ngữ âm học và âm vị học:

  • Khái niệm phương ngữ, thổ ngữ và biến thể: Luận án dẫn giải các quan điểm của F. Engels, F. de Saussure, J. Chambers & P. Trudgill, E. Haugen, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Tài Thái, Trịnh Cẩm Lan. Phương ngữ là biến thể địa lý của ngôn ngữ toàn dân. Thổ ngữ là biến thể địa phương ở phạm vi không gian hẹp hơn như huyện, xã, thôn, làng (Hoàng Thị Châu, Vương Toàn, Ronald Wardhaugh). Biến thể ngôn ngữ gồm biến thể chuẩn (có uy tín xã hội cao, thường gắn với trung tâm chính trị - văn hóa) và biến thể phi chuẩn (phạm vi hẹp, gắn với địa phương). Về mặt cơ chế, biến thể gồm biến thể tự do (địa phương, cá nhân) và biến thể bắt buộc (bị quy định bởi bối cảnh ngữ âm gồm biến thể kết hợp và biến thể vị trí - dựa theo các nghiên cứu của W. Labov, P. Trudgill, W. Wolfram).
  • Bốn chiều tiếp cận phương ngữ:
    1. Chiều thời gian (lịch sử): Tìm kiếm các chứng tích cổ phục vụ ngôn ngữ học lịch sử và phục nguyên ngữ hệ Nam Á.
    2. Chiều không gian (ngôn ngữ học địa lý): Khảo sát sự phân bố các biến thể ngữ âm, từ vựng theo ranh giới lãnh thổ; xác định các biến đổi ngữ âm có quy luật (như sát hóa, vô thanh hóa).
    3. Chiều xã hội (ngôn ngữ học xã hội): Khảo sát mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tầng lớp xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, biệt ngữ và tiếng lóng.
    4. Chiều khu vực học (liên ngành): Tiếp cận ngôn ngữ trong mối quan hệ tổng thể với lịch sử, địa lý, dân cư và văn hóa vùng miền.
  • Ngữ âm học cấu âm và âm học: Về cấu âm, luận án phân tích cơ chế luồng hơi (phổi, thanh hầu, mạc) và 5 thức tạo thanh theo J. Clark & C. Yallop, M. Gordon & P. Ladefoged (vô thanh, hữu thanh, thở, thường, kẹt thanh). Về âm học, luận án đo đạc 4 thông số: tần số cơ bản F0 tính bằng Hertz (Hz), cường độ tính bằng Décibel (dB), trường độ tính bằng mili giây (ms), âm sắc và các dải cộng hưởng formant (F1, F2, F3 tính bằng Hz) thể hiện qua dạng sóng âm và ảnh phổ (spectrogram).
  • Cấu trúc âm tiết tiếng Việt: Luận án so sánh các mô hình của Le Van Ly (mô hình CVC), M.B. Emeneau, M. Gordina, Nguyễn Quang Hồng, Cù Đình Tú - Hoàng Văn Thung - Nguyễn Nguyên Trứ, Hoàng Thị Châu. Luận án lựa chọn mô hình hai bậc, 5 thành phần của Đoàn Thiện Thuật làm khung phân tích:
    • Bậc một: Thanh điệu, Âm đầu, Vần.
    • Bậc hai (cấu tạo phần Vần): Âm đệm, Âm chính, Âm cuối. Trong đó, âm /w/ được xếp là âm đệm thuộc phần vần; hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt toàn dân được xác định gồm 22 âm vị.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm 4 phương pháp chính:

  1. Phương pháp điều tra điền dã: Khảo sát thính giác kết hợp sử dụng máy ghi âm số chuyên dụng ZOOM H2N (hãng ZOOM JAPAN, mẫu ghi âm 44.1 kHz, định dạng file .wav).
  2. Phương pháp phân tích thực nghiệm âm học bằng máy tính:
    • Phần mềm WIN CECIL (tổ chức SIL Hoa Kỳ): Phân tích các thông số âm học của thanh điệu và ngữ điệu, hiển thị dạng sóng âm, sự thay đổi cấu âm và đường nét F0.
    • Phần mềm Speech Analyzer 3.0 (SA): Phân tích các đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn của lời nói (phụ âm đầu, vần, thanh điệu).
    • Phần mềm PRAAT phiên bản 6.35 (ngày 16/10/2017): Đo đạc định lượng F0 (Hz), trường độ (ms), cường độ (dB), các đường sọc xung thanh môn và cấu trúc formant F1, F2, F3 (Hz).
  3. Phương pháp miêu tả ngữ âm – âm vị học: Phân loại, miêu tả các đặc trưng cấu âm và âm học của các âm vị phụ âm, nguyên âm và thanh điệu.
  4. Phương pháp so sánh lịch sử: Đối chiếu lịch đại hệ thống thanh điệu và ngữ âm Lộc Hà với phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Bắc Trung Bộ và tiếng Việt toàn dân.

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm 24 bản ghi âm (26 MB dữ liệu định dạng .wav) từ 24 cộng tác viên tại 4 xã của huyện Lộc Hà kèm theo văn bản ghi chép phiên âm quốc tế IPA và hệ thống bảng từ chuẩn hóa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Tổng quan tình hình nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt và cơ sở lý thuyết của luận án

Chương I trình bày có hệ thống lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt trong và ngoài nước; xác lập khung lý thuyết phương ngữ học địa lý và các khái niệm cơ bản về âm vị học, ngữ âm học cấu âm, ngữ âm học âm học và mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt hai bậc.

Bên cạnh lý thuyết ngôn ngữ, chương này cung cấp bức tranh tổng thể về địa bàn khảo sát. Huyện Lộc Hà được thành lập theo Nghị định số 20/2007/NĐ-CP ngày 17/02/2007 của Chính phủ (công bố ngày 08/03/2007), trên cơ sở điều chỉnh địa giới tách 7.579,8 ha từ 7 xã của huyện Can Lộc (43.204 nhân khẩu) và 4.251,05 ha từ 6 xã của huyện Thạch Hà (43.009 nhân khẩu). Tại thời điểm nghiên cứu, huyện Lộc Hà có diện tích tự nhiên 11.830,85 ha, dân số 86.213 người, đều là dân tộc Kinh, gồm 13 đơn vị hành chính cấp xã: An Lộc, Bình Lộc, Hộ Độ, Hồng Lộc, Ích Hậu, Mai Phụ, Phù Lưu, Tân Lộc, Thạch Bằng, Thạch Châu, Thạch Kim, Thạch Mỹ, Thịnh Lộc.

Về mặt ngôn ngữ, tiếng Lộc Hà thuộc phương ngữ Nghệ Tĩnh nhưng bảo lưu nhiều đặc điểm ngữ âm cổ từ thế kỷ XV - XVII:

  • Về ngữ âm: Tồn tại hệ thống 5 thanh điệu tương tự phương ngữ Nghệ Tĩnh nhưng có phẩm chất khác biệt về đường nét và âm vực (giọng nói cao hơn rõ rệt).
  • Về từ vựng: Lưu giữ nhiều từ cổ phản ánh tiến trình biến đổi lịch sử ngữ âm tiếng Việt như hiện tượng xát hóa và hữu thanh hóa phụ âm đầu (bẹo/véo, cồng/gồng, chằng xay/giằng xay), quá trình chuyển đổi phụ âm nh/d/r (dện/nhện, dắt/nhắt) và quá trình trước hóa các nguyên âm đôi (hiêu/hươu, riệu/rượu).

Chương II. Đặc điểm phụ âm đầu tiếng Lộc Hà

Chương II tập trung khảo sát cấu âm và âm học của hệ thống phụ âm đầu. Tác giả đối sánh hệ thống 22 phụ âm đầu tiếng Việt toàn dân theo phân loại của Đoàn Thiện Thuật với hệ thống 18 phụ âm đầu của phương ngữ Bắc Bộ (tiếng Hà Nội), hệ thống phụ âm đầu tiếng thành phố Hà Tĩnh (vùng trung tâm) và tiếng Lộc Hà.

Bảng hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt toàn dân được luận án sử dụng làm khung tham chiếu:

Phương thức cấu âm Phân loại Môi Răng - môi Đầu lưỡi lợi Đầu lưỡi quặt Mặt lưỡi Gốc lưỡi Thanh hầu
Tắc (Không bật hơi - Vô thanh) Ồn /t/ /ʈ/ /c/ /k/ /ʔ/
Tắc (Không bật hơi - Hữu thanh) Ồn /b/ /d/
Tắc (Bật hơi - Vô thanh) Ồn /tʰ/
Tắc (Vang) Vang /m/ /n/ /ɲ/ /ŋ/
Xát (Ồn - Vô thanh) Ồn /f/ /s/ /ʂ/ /x/ /h/
Xát (Ồn - Hữu thanh) Ồn /v/ /z/ /ʐ/ /ɣ/
Xát (Vang bên) Vang /l/

Chương II phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm âm học thu được từ các phần mềm SA và PRAAT:

  • Phân tích dạng sóng âm, cường độ, phổ đồ và ảnh phổ của các phụ âm tắc /b/, /d/, các phụ âm xát /s/, /z/, phụ âm quặt lưỡi.
  • Đo đạc thông số âm học so sánh giữa 3 loại phụ âm /d/, /đ/ và /z/.
  • Phân tích sự xuất hiện và bản chất âm học của âm tắc thanh hầu /ʔ/ trong các âm tiết khởi đầu bằng nguyên âm như âm tiết "ăn", nửa đầu âm tiết /ʔɛŋ/.
  • Khảo sát các sóng âm giữa phụ âm nổ và phụ âm hút vào, cấu trúc formant chuyển tiếp giữa phụ âm đầu sang nguyên âm trong các âm tiết /ta/, /sa/.

Chương III. Đặc điểm vần tiếng Lộc Hà

Chương III miêu tả và phân loại hệ thống vần tiếng Lộc Hà thành hai khối lớn:

  1. Đặc điểm các loại vần không có âm đệm: Được khảo sát chi tiết theo 4 độ mở của âm cuối và âm chính:
    • Các vần mở không có âm đệm.
    • Các vần nửa mở không có âm đệm.
    • Các vần nửa khép không có âm đệm.
    • Các vần khép không có âm đệm.
  2. Đặc điểm các loại vần có âm đệm: Tương tự được khảo sát qua 4 tiểu loại:
    • Các vần mở có âm đệm.
    • Các vần nửa mở có âm đệm.
    • Các vần nửa khép có âm đệm.
    • Các vần khép có âm đệm.

Tại mỗi nhóm vần, luận án lập các bảng thống kê thực trạng phát âm và các biến thể vần tại 4 điểm điều tra (An Lộc, Thịnh Lộc, Thạch Kim, Thạch Châu). Dữ liệu âm học thực nghiệm được đo đạc bằng chương trình PRAAT và SA nhằm xác định vị trí cấu âm của nguyên âm qua hai chỉ số formant cơ bản:

  • Formant thứ nhất (F1): Phản ánh độ mở của miệng (độ nâng của lưỡi).
  • Formant thứ hai (F2): Phản ánh vị trí tiến/lùi của lưỡi (dòng trước, dòng giữa hay dòng sau).
  • Minh chứng âm học cụ thể được đưa ra qua ảnh phổ và sóng âm của các âm tiết mẫu: đối chiếu vần không âm đệm /-an/ trong từ LAN (/lan/) với vần có âm đệm /-wan/ trong từ LOAN (/lwan/); diễn tiến F1 và F2 trong các âm tiết BÈ, CỎ; thông số âm học của từ anh, vần /e/, từ xong, từ ông, vần /ɛk/, từ ếch (/ʔek/) với vần /-ek/, từ học (/hɔk/) với vần /-ɔk/, và từ ốc (/ʔok/) với vần /-ok/.

Chương IV. Đặc điểm thanh điệu tiếng Lộc Hà

Chương IV là phần trọng tâm của luận án, tập trung giải mã hệ thống thanh điệu vốn tạo nên nét đặc thù về giọng nói của địa phương này:

  • Phân tích hệ thống 8 thanh truyền thống tiếng Việt và xây dựng ma trận nhận diện tiêu chí âm vị học thanh điệu tiếng Hà Nội và tiếng Hà Tĩnh trung tâm.
  • Khảo sát hệ thống 5 thanh điệu tại 4 thổ ngữ đại diện huyện Lộc Hà:
    1. Hệ thống thanh điệu xã Thịnh Lộc.
    2. Hệ thống thanh điệu xã An Lộc.
    3. Hệ thống thanh điệu xã Thạch Kim.
    4. Hệ thống thanh điệu xã Thạch Châu.
  • Luận án ứng dụng WIN CECIL, SA và PRAAT để xuất đồ thị F0, ảnh phổ, đường cong cường độ và xung thanh môn cho từng thanh điệu:
    • Phân tích sóng âm, xung thanh môn, ảnh phổ thanh 3 và thanh 4 của tiếng Hà Tĩnh trung tâm.
    • Phân tích sóng âm và thanh phổ của âm tiết mang thanh điệu đối lập: "tá" và "tả" trong thổ ngữ Thịnh Lộc.
    • Xây dựng đồ thị F0 và đo đạc đặc trưng âm học của 5 thanh tại An Lộc, Thạch Kim, Thạch Châu.
  • So sánh đối chiếu hệ thống thanh điệu Lộc Hà:
    • So sánh với tiếng Hà Tĩnh trung tâm thành phố.
    • So sánh với hệ thống 6 thanh tiếng Hà Nội.
    • So sánh với tiếng Nghĩa Đàn (Nghệ An) và hệ thống 5 thanh của phương ngữ Bắc Trung Bộ.
  • Luận giải quá trình biến đổi lịch sử thanh điệu: Luận án lập ma trận đối sánh tiến trình phân hóa thanh điệu sau thời kỳ phân chia phương ngữ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, tiếng Hà Tĩnh trung tâm và các thổ ngữ Lộc Hà; chứng minh sự tương ứng lịch sử giữa các tầng thanh điệu cổ và hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố tự thân của luận án, công trình mang lại những đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận và ngữ âm học miêu tả:
    • Đây là công trình đầu tiên miêu tả một cách toàn diện, có hệ thống các đặc điểm ngữ âm – âm vị học của tiếng Lộc Hà trên cả ba thành phần phụ âm đầu, vần và thanh điệu.
    • Lần đầu tiên các đặc trưng ngữ âm của tiếng Lộc Hà được định lượng hóa chính xác bằng phương pháp ngữ âm học thực nghiệm, sử dụng các phần mềm chuyên dụng (WIN CECIL, Speech Analyzer 3.0, PRAAT 6.35). Các chỉ số âm học như tần số cơ bản F0 (Hz), trường độ (ms), cường độ (dB), các dải formant (F1, F2, F3) và ảnh phổ xung thanh môn đã làm sáng tỏ bản chất của hiện tượng giọng nói "cao hơn hẳn" tại vùng đất này.
  2. Về mặt so sánh đối chiếu và lịch sử ngôn ngữ:
    • Luận án chỉ ra các nét tương đồng và dị biệt cụ thể giữa các thổ ngữ Lộc Hà với phương ngữ Nghệ Tĩnh (tiếng Hà Tĩnh trung tâm, tiếng Nghĩa Đàn) và ngôn ngữ toàn dân (tiếng Hà Nội).
    • Cung cấp các cứ liệu ngữ âm thực nghiệm xác thực chứng minh quá trình biến đổi lịch sử ngữ âm tiếng Việt, đặc biệt là quá trình xát hóa, hữu thanh hóa phụ âm đầu, sự phân hóa thanh điệu và sự bảo lưu các nét ngữ âm cổ giai đoạn thế kỷ XV - XVII.
  3. Về mặt ứng dụng và giải pháp đề xuất:
    • Cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy phục vụ nghiên cứu phương ngữ học và lịch sử tiếng Việt.
    • Đề xuất ứng dụng dữ liệu nhận diện sự lệch chuẩn ngữ âm phục vụ công tác chuẩn hóa tiếng Việt, hỗ trợ giảng dạy chính tả và khắc phục lỗi phát âm địa phương cho học sinh các cấp trên địa bàn huyện Lộc Hà và tỉnh Hà Tĩnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án căn cứ theo phạm vi khảo sát được tác giả xác định trong văn bản:

  • Phạm vi địa bàn: Mới tiến hành điều tra thực nghiệm tại 4 xã (An Lộc, Thịnh Lộc, Thạch Châu, Thạch Kim) trên tổng số 13 xã của huyện Lộc Hà; 9 xã còn lại chưa được đo đạc thông số âm học chi tiết.
  • Cỡ mẫu cộng tác viên: Dữ liệu thực nghiệm giới hạn ở 24 cộng tác viên tập trung trong độ tuổi từ 30 đến 50. Luận án chưa mở rộng sang các nhóm lứa tuổi khác (thanh thiếu niên hoặc người cao tuổi trên 60) để khảo sát sự biến đổi ngữ âm theo chiều kích xã hội học và thế hệ.
  • Bình diện nghiên cứu: Luận án tập trung chuyên sâu vào bình diện ngữ âm - âm vị học; các hiện tượng biến đổi từ vựng cổ và ngữ pháp phương ngữ mới chỉ được nêu ở mức độ dẫn nhập khái quát, chưa có chương mục khảo sát định lượng độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp được mở rộng từ các hạn chế trên:

  • Mở rộng phạm vi điều tra điền dã và phân tích âm học thực nghiệm trên toàn bộ 9 xã còn lại của huyện Lộc Hà.
  • Triển khai nghiên cứu phương ngữ học xã hội: Khảo sát sự biến đổi ngữ âm theo lứa tuổi, giới tính và tác động của quá trình giao lưu kinh tế, giáo dục đối với giọng nói bản địa của người Lộc Hà.
  • Khảo cứu toàn diện hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp của thổ ngữ Lộc Hà trong mối liên hệ so sánh với các thổ ngữ cổ khác của vùng Nghệ Tĩnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Phương ngữ học và Ngữ âm học: Bản mô tả chi tiết phương pháp kết hợp giữa điền dã thính giác với đo đạc thực nghiệm âm học bằng WIN CECIL, SA và PRAAT là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm.
  • Các nhà nghiên cứu Lịch sử tiếng Việt: Nguồn ngữ liệu về các phụ âm xát, phụ âm tắc thanh hầu, quá trình trước hóa nguyên âm và hệ thống 5 thanh điệu Lộc Hà cung cấp các minh chứng thực tế cho tiến trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt từ thế kỷ XV - XVII.
  • Ngành giáo dục và các nhà hoạch định chính sách giáo dục tại địa phương: Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh, giáo viên phổ thông huyện Lộc Hà có thể tham khảo các bảng thống kê biến thể phát âm vần, phụ âm và thanh điệu để biên soạn tài liệu rèn luyện chính tả, khắc phục các lỗi phát âm sai quy chuẩn cho học sinh.
  • Các nhà nghiên cứu Văn hóa, Dân tộc học và Địa phương chí tỉnh Hà Tĩnh: Nguồn tư liệu về địa lý hành chính, lịch sử hình thành huyện Lộc Hà theo Nghị định 20/2007/NĐ-CP và đặc điểm cư dân địa phương là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu khu vực học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án điều tra thực nghiệm tại những địa bàn cụ thể nào ở huyện Lộc Hà và tiêu chuẩn chọn mẫu cộng tác viên ra sao?

Luận án tiến hành điều tra điền dã tại 4 xã: Thịnh Lộc, Thạch Kim, An Lộc và Thạch Châu. Tiêu chuẩn lựa chọn gồm 24 cộng tác viên (12 nam, 12 nữ; mỗi xã 6 người), sinh ra và cư trú liên tục 2 đến 3 đời tại địa phương, trong độ tuổi từ 30 đến 50, không đi làm ăn xa, có chất giọng được cộng đồng công nhận là tiếng Lộc Hà thuần bản địa.

2. Luận án sử dụng thiết bị và những phần mềm nào để số hóa và phân tích ngữ âm thực nghiệm?

Luận án sử dụng máy ghi âm số chuyên dụng ZOOM H2N (hãng ZOOM JAPAN, mẫu ghi âm 44.1 kHz, định dạng file .wav). Dữ liệu được phân tích qua ba chương trình máy tính: WIN CECIL (của SIL Hoa Kỳ, chuyên dùng phân tích ngôn điệu và thanh điệu), Speech Analyzer 3.0 (phân tích đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn), và PRAAT phiên bản 6.35 (đo đạc định lượng F0, formant F1, F2, F3, trường độ ms, cường độ dB và ảnh phổ).

3. Luận án lựa chọn mô hình âm vị học nào để miêu tả cấu trúc âm tiết tiếng Lộc Hà?

Luận án lựa chọn mô hình cấu trúc âm tiết hai bậc, 5 thành phần của Đoàn Thiện Thuật làm khung lý thuyết: bậc một gồm Thanh điệu, Âm đầu, Vần; bậc hai của Vần gồm Âm đệm, Âm chính, Âm cuối. Luận án thừa nhận hệ thống chuẩn 22 phụ âm đầu tiếng Việt toàn dân và xác định /w/ là âm đệm thuộc phần vần.

4. Dữ liệu âm thanh thu thập được có quy mô như thế nào?

Tổng dữ liệu âm thanh thu thập gồm 24 tệp dữ liệu âm thanh định dạng .wav với tổng dung lượng 26 MB từ 24 cộng tác viên, ghi âm theo hai hình thức: đọc 2 bảng từ âm tiết tách biệt và ghi âm lời nói tự nhiên kèm bản ghi văn bản tương ứng.

5. Điểm khác biệt nổi bật của hệ thống thanh điệu tiếng Lộc Hà được luận án chỉ ra là gì?

Tiếng Lộc Hà có hệ thống gồm 5 thanh điệu giống phương ngữ Nghệ Tĩnh, nhưng phẩm chất các thanh điệu khác biệt về đường nét và âm vực; cao độ cơ bản (F0) cao hơn rõ rệt so với tiếng Hà Tĩnh trung tâm và các vùng lân cận, đồng thời bảo lưu nhiều dấu vết phân hóa thanh điệu lịch sử.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ âm tiếng Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh) theo hướng tiếp cận phương ngữ học địa lý kết hợp kỹ thuật phân tích thực nghiệm âm học. Bằng việc đo đạc định lượng các thông số F0, formant, trường độ và cường độ qua các phần mềm WIN CECIL, Speech Analyzer và PRAAT, luận án đã làm sáng tỏ đặc trưng cấu âm và âm học của hệ thống phụ âm đầu, vần và thanh điệu tại 4 thổ ngữ tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở dữ liệu số hóa xác thực về một thổ ngữ bảo lưu nhiều nét ngữ âm cổ, đóng góp nguồn cứ liệu khoa học tin cậy cho phương ngữ học tiếng Việt và lịch sử phát triển ngôn ngữ dân tộc.