Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ 1.1 Nghĩa của từ Nghĩa của từ là một hệ thống các nét có quan hệ qua lại với nhau. Hoàng Phê [25] đã phân tích ngữ nghĩa của từ mẹ để có được một cái nhìn cụ thể về cấu trúc của nghĩa từ. Mẹ có thể phân tích thành ba nét nghĩa: [phụ nữ], [đã có con], [nói trong mối quan hệ với con].
Giữa ba nét nghĩa trên có mối quan hệ trật tự nhất định. Nét nghĩa đứng trước là tiền đề cho nét nghĩa đứng sau, nét nghĩa đứng sau thuyết minh, cụ thể hóa nét nghĩa đứng trước. Quan hệ quy định lẫn nhau này của các nét là “một quan hệ tĩnh, trong nội bộ nghĩa của từ, xét một cách cô lập” [25]. Khi từ hoạt động để tạo thành các tổ hợp từ lớn hơn, giữa các nét nghĩa của từ cần có một loại quan hệ khác vô cùng quan trọng: “quan hệ cấp bậc”.
Hoàng Phê đã nhấn mạnh: “Giữa hai loại quan hệ, trật tự và cấp bậc không nhất thiết có sự tương ứng, mà trái lại thường có mâu thuẫn” [25]. Khi từ được đặt trong một ngữ cảnh cụ thể, không phải lúc nào mọi nét nghĩa xét trong quan hệ tĩnh cũng đều tham gia vào việc thực hiện chức năng thông báo. Chẳng hạn, khi từ “mẹ” thực hiện chức năng thông báo, có thể là cả ba nét nghĩa nhưng cũng có thể chỉ có hai, thậm chí một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của nó được hiện thực hóa. Nói tóm lại, nghĩa của từ được Hoàng Phê [25] kết luận như sau: “Nghĩa của từ , nói chung: a.
Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; b. Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; 13 n c. Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập tổ hợp và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ tổ hợp với nhau.” Quan niệm của Hoàng Phê cho thấy cấu trúc của nghĩa từ là một cấu trúc động, nghĩa là khi từ hoạt động, thường chỉ có một số nét nghĩa trong nghĩa của từ có khả năng hiện thực hóa. Và nét nào của từ được hiện thực hóa là tùy thuộc vào ngữ cảnh, cụ thể là “tùy vào chức năng của từ trong ngữ”, tùy vào quan hệ cú pháp của từ với các từ khác, tùy nội dung ngữ nghĩa của những từ kết hợp với nó.
Như vậy, cấu trúc ngữ nghĩa của một từ có liên quan chặt chẽ đến hoạt động ngữ pháp của nó. Điều này không chỉ Hoàng Phê mà các nhà ngữ nghĩa học hiện đại đều công nhận. Đỗ Hữu Châu khi nói về mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ pháp đã khẳng định: “Những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm chung cho nhiều từ không chỉ có tính từ vựng mà cũng có tính ngữ pháp” [2, tr.119] bởi những nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm (sự vật, hoạt động, tính chất) chính là ý nghĩa từ loại hay ý nghĩa ngữ pháp của từ. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng “bản thân những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm và quan hệ giữa chúng có tác dụng quy định cách dùng từ, qui định cách kết hợp của nó với các từ khác trong câu” [2, tr.
Các từ chỉ có thể tạo thành những tổ hợp chấp nhận được trong thực tế khi giữa chúng có sự tương hợp về ngữ nghĩa.D Aprexjan: “Hạn chế về kết hợp của những từ khác nhau trong lời nói là sự vắng mặt trong ý nghĩa của chúng những thành tố nghĩa chung hoặc là sự có mặt của các thành tố nghĩa không dung hòa được nhau” [19]. Cuối cùng, chúng tôi xin nhấn mạnh quan điểm của Hoàng Phê, “nghĩa của từ xem ra nên quan niệm là một tiềm năng. Có những nét nghĩa hầu như luôn luôn được hiện thực hóa, bên cạnh những nét nghĩa chỉ được hiện thực 14 n hóa trong những trường hợp nhất định, có khi là những trường hợp rất hãn hữu. Định nghĩa từ điển của từ nhiều lắm cũng chỉ có thể nêu được những nét nghĩa có khả năng hiện thực hóa trong những trường hợp điển hình” [25].
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ. Từ (đơn hoặc phức) lúc đầu mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật. Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới. Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đi.
Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theo kiểu móc xích. Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo lối “tỏa ra” nghĩa là các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện. Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với nghĩa trước, thậm chí ngay cùng một từ sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành đồng nghĩa với cái từ trái nghĩa trước kia của nó. Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại.149 -150] Chuyển nghĩa từ vựng là một trong những nội dung cơ bản của ngôn ngữ học truyền thống.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu, sự phát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Cụ thể: - Phương thức ẩn dụ “Phương thức ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau. Các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng” [2, tr.
15 n Ví dụ: từ “đầu” có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể người hay động vật, ở vị trí đầu tiên, trước hết, có chứa được chuyển nghĩa sang để chỉ các sự vật hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng về hình dáng và chức năng: đầu máy, đầu làng, đầu câu chuyện, đứng hàng đầu… - Phương thức hoán dụ Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, phương thức chuyển nghĩa “Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế. Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người. Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ” [2, tr. Có thể thấy rằng, vấn đề nghĩa và chuyển nghĩa là một trong những nội dung trọng tâm của ngôn ngữ học cấu trúc.
Tuy nhiên, ngôn ngữ học cấu trúc mới chỉ xem chuyển nghĩa của từ là quá trình chuyển đổi tên gọi thông qua các phương thức ẩn dụ và hoán dụ mà chưa chú trọng đến quá trình tư duy của con người, đến đặc trưng tri nhận của con người trong việc tạo nghĩa mới cho từ. Ngôn ngữ học tri nhận coi trọng vai trò chủ thể của con người trong việc kiến tạo và lưu giữ nghĩa. Nghĩa được bộc lộ trong hoạt động hành chức, trong quá trình con người thực hiện hoạt động giao tiếp. Như vậy, nghĩa theo ngôn ngữ học tri nhận là ở trong tư duy con người, trong hoạt động hành chức của từ.
Vì vậy, trong ngôn ngữ học tri nhận, hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng thuộc tư duy, ý thức của con người. Theo Gibbs [46] khẳng định “hiện tượng chuyển nghĩa không tồn tại với tư cách là những đơn vị nghĩa độc lập trong hệ thống từ vựng mà về bản chất chúng là những bộ phận của hệ thống các khái niệm đã được ẩn dụ hóa”. Theo quan điểm này, các nghĩa chuyển có quan hệ với nhau theo cách nhất định dựa trên cơ chế tri nhận ẩn dụ và hoán dụ. Chúng được tổ chức 16 n sắp xếp theo một hệ thống giống như cách thức tổ chức nghĩa trong tư duy con người.
Sơ đồ ý niệm giúp chúng ta sắp xếp tổ chức các nghĩa trong từ nhiều nghĩa, giúp chúng ta hiểu được các nghĩa lời nói, nghĩa từ điển của từ được tổ chức sắp xếp theo quy tắc nhất định. Chính quan niệm này đã định hướng việc nghiên cứu bản chất của hiện tượng chuyển nghĩa. Theo đó, các nghĩa chuyển ẩn dụ và hoán dụ có thể được miêu tả rõ ràng hơn thông qua lược đồ tri nhận qua mối liên hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích. Một số lý thuyết cơ bản về ẩn dụ ý niệm 1.
Ý niệm và ý niệm hóa Ý niệm (concept) là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận (congnitive linguistics). Theo ngôn ngữ học tri nhận, ý niệm được hình thành trong ý thức con người, “là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lý con người”.139] Ý niệm là đơn vị của ý thức, có cấu trúc bao gồm 3 thành tố: cảm xúc, trí tuệ, ý chí. Tác giả Trần Văn Cơ cho rằng : “ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi. Có thể hình dung trường chức năng của ý niệm như một vòng tròn to chứa vòng tròn nhỏ ở tâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau ở ngoại vi.
Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường - chức năng, mang tính phổ quát, toàn nhân loại. Nằm ở ngoại vi là những yếu tố mang nét đặc thù văn hóa dân tộc”.141] Ý niệm được hình thành trong ý thức của con người, cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ. 17 n Vậy, ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ. Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau).
Thuyết nghiệm thân Nghiệm thân (Embodiment) là khái niệm có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ học tri nhận.