CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THUYẾT, LỄ HỘI 1. Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và lễ hội 1. Truyền thuyết Các nhà folklore quan niệm truyền thuyết là một thể loại riêng biệt là những truyện ngắn kể về những sự kiện trong quá khứ như: những sự kiện lịch sử; những nhân vật lịch sử; những địa danh, những công trình văn hóa, danh thắng; những hiện tượng thiên nhiên như: Sấm chớp, bão lụt….những câu chuyện nêu trên không cần đảm tính chính xác về mặt lịch sử nhưng có cốt lõi lịch sử trong đó. Với đặc điểm đó, truyền thuyết dân gian luôn tạo cho mình một sức hấp dẫn đặc biệt so với các thể loại văn học dân gian khác.
Ở Việt Nam truyền thuyết đã xuất hiện, tồn tại và phát triển như là sự thay thế, sự hóa thân của thể loại sử thi dân tộc. Việc nghiên cứu về truyền thuyết đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chỉ riêng khái niệm về truyền thuyết cũng có rất nhiều kiến được đưa ra như: Các tác giả nhóm Lê Qúy Đôn từ những năm 50 của thế kỷ XX, trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, đã định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử, mà có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lí, hoặc kể lại một gốc tích sự vật gì, hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác”[10; 60] Còn trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi lại định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử và truyện lịch sử chỉ có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của mình”[4]. download by : skknchat@gmail.com 10 Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi nhận định: “Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương”[14].
Trong bài Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử, ông Phan Trần cũng đã nêu lên định nghĩa về truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử. Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân”[41]. Trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian, tác giả Kiều Thu Hoạch đưa ra một định nghĩa về truyền thuyết khá toàn diện; “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian. Nội dung cốt truyện kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân.
Biện pháp nghệ thuật phổ biến là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích, thần thoại”[17]. Các khái niệm trên đều đã nêu được nội dung phản ánh và đặc trưng trong nghệ thuật phản ánh của truyền thuyết xong chưa có tính khái quát. Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ đã đưa ra một khái niệm tương đối thuyết phục và được phổ biến đó là: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ”[35]. Về cơ bản, đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh về thể loại truyền thuyết.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn khái niệm này là cơ sở lý luận trong quá trình nghiên cứu. download by : skknchat@gmail.com 11 Như vậy qua các khái niệm truyền thuyết của các tác giả khác nhau đều nhắc tới những đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết đó là: có gắn bó chặt chẽ với cốt lõi lịch sử, nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nhất định, được nhìn nhận qua lăng kính của nhân dân với sự hư cấu, kỳ ảo. Nó chính là một thể loại kết hợp hài hòa giữa văn và sử. Đặc trưng này chính là một dấu hiệu quan trọng để giúp ta phân biệt giữa truyền thuyết với các thể loại truyện dân gian khác, đồng thời cũng làm nên nét độc đáo của thể loại truyền thuyết.
Thông qua hệ thống truyền thuyết dân gian của Việt Nam, các tác giả dân gian đã tái hiện chân dung đời sống tinh thần của dân tộc. Đó là sự lý giải đầy tự hào về sự hình thành về nòi giống của dân tộc; tái hiện quá trình chinh phục thiên nhiên, xây dựng nền văn hiến; thể hiện lòng tự hào, ngưỡng mộ với các danh nhân văn hóa; ngợi ca nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược… Về việc phân loại truyền thuyết các nhà folklore thế giới có nhiều cách phân loại, người chia làm 4 loại như cách chia của hội nghiên cứu văn học tự sự dân gian quốc tế: truyền thuyết khởi nguyên; truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết thần thoại; truyền thuyết tôn giáo. Ở Việt Nam năm 1990, Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam đã chia truyền thuyết làm 3 loại: truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Lễ hội Bên cạnh vai trò phán ánh lịch sử một cách độc đáo, truyền thuyết còn có mỗi quan hệ đặc biệt với nghi lễ, hội lễ.
Các nhân vật trong truyền thuyết là những anh hùng dân tộc hay những danh nhân văn hóa được tái hiện bằng tình cảm yêu mến và cảm phục của nhân dân. Họ đã bước ra khỏi những câu chuyện để trở thành những nhân vật thiêng như Thành hoàng, ông tổ nghề, thần thiêng bảo hộ cho các vùng đất. Hằng năm, để tưởng nhớ công lao và giáo dục truyền download by : skknchat@gmail.com 12 thống cho thế hệ sau nhân dân tổ chức các nghi thức tế lễ. Do vậy, truyền thuyết là cơ sở để giải thích và khiến cho lễ hội có nội dung thiêng, còn lễ hội lại là mảnh đất để di dưỡng truyền thuyết trong đời sống dân gian.
Đó là cở sở hình thành mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội. Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu. Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả”.(Dẫn theo https://giaoviendulich.com/2010/01/24) Ở Việt Nam lễ hội – là một nét đẹp văn hóa mang tính cộng đồng của cư dân nước Việt.
Từ ngàn đời xưa lễ hội không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa dân gian mà nó còn phản ánh tư duy, thái độ, tình cảm của cư dân nông nghiệp một cách rõ nét. Tuy nhiên, định nghĩa về lễ hội cũng có nhiều những quan niệm khác nhau như: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê đã định nghĩa: “Lễ hội là cuộc vui tổ chức chung có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc”[38]. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, tác giả Huỳnh Bá Công đã nhận định: “Lễ hội ở đây được nhìn tổng quát chỉ cả lễ tết và hội hè, trong đó lễ là để dâng hương thần thánh, còn hội là để mua vui cho mọi người trong cộng đồng, tất cả đều nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần, tâm linh của con người”[4]. download by : skknchat@gmail.com 13 Trong cuốn Từ điển hội lễ Việt Nam, tác giả Bùi Thiết cho rằng: “Hội lễ là cách gọi cô đọng nhằm để chỉ toàn bộ các hoạt động tinh thần, phản ánh những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dâng cúng, những hội hè đình đám của một cộng đồng làng xã nhất định”[47;2].
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một kho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc.lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”[33;53]. Từ những khái niệm như trên có thể thấy lễ hội bao gồm 2 phần chính: phần lễ và phần hội, luôn đan xen, gắn liền, không tách rời, trong đó: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh. Con người thực hiện phần lễ để thể hiện niềm tin vào những lực lượng siêu nhiên, thể hiện niềm mong ước có một cuộc sống tốt đẹp, mùa màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, quốc thái, dân an.
“Hội là sự tập hợp đông người để thực hành diễn xướng, trình diễn các phong tục, tín ngưỡng, các hình thức văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, các sinh hoạt tinh thần xã hội”(Dẫn theo http://ajc.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Gia- tri-lich-su-truyen-thong-van-hoa-cua-le-hoi/19727. Sau những nghi lễ trang nghiêm, việc tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng này lại là lúc con người được nghỉ ngơi, thư giãn nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mặt tinh thần của quần chúng. Nguồn gốc hình thành lễ hội truyền thống của nước ta thường được lý giải trên ba cơ sở chính: Thứ nhất là môi trường tự nhiên và hoạt động sản xuất. Đất nước Việt Nam ra đời là kết quả của quá trình vận động, biến đổi tự download by : skknchat@gmail.com 14 nhiên, địa lí, địa chất diễn ra cách đây hàng triệu năm.
Cùng với địa hình thấp, nhiều đồng bằng, hệ thống sông ngòi chằng chịt với lượng phù sa lớn được bồi đắp hằng năm , khí hậu nhiệt đới gió mùa là những điều kiện phù hợp với gieo trồng lúa nước.