Luận Văn: Truyền Thuyết Tứ Pháp và Lễ Hội Cầu Mưa ở Hưng Yên

Luận văn về truyền thuyết Tứ Pháp và lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên. Nghiên cứu sâu sắc về văn hóa, tín ngưỡng dân gian đặc sắc vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.2.1. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên

0.2.2. Lịch sử nghiên cứu lễ hội cầu mưa

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4.1. Mục đích nghiên cứu

0.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THUYẾT, LỄ HỘI

1.1. Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và lễ hội

1.2. Tục thờ Tứ pháp của người Việt

1.3. Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh Hưng Yên

1.4. Truyền thuyết và lễ hội ở Hưng Yên

1.4.1. Truyền thuyết ở Hưng Yên

1.4.2. Lễ hội ở Hưng Yên

2. CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ PHÁP Ở HƯNG YÊN

2.1. Tổng quan truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên

2.2. Tín ngưỡng thờ Tứ pháp ở Hưng Yên

2.3. Hệ thống truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên

2.4. Truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên nhìn từ phương diện nội dung

2.4.1. Phản ánh sự hòa hợp của Phật giáo và những tín ngưỡng bản địa

2.4.2. Phản ánh ước mơ, nguyện vọng của nhân dân

2.4.3. Thể hiện sự tôn vinh với những người có công sáng tạo văn hóa

2.5. Truyền thuyết về Tứ pháp ở Hưng Yên nhìn từ phương diện nghệ thuật

2.5.1. Cốt truyện truyền thuyết

2.5.2. Mô típ điển hình

2.5.2.1. Mô típ người hóa đá
2.5.2.2. Mô típ chiến công phi thường
2.5.2.3. Mô típ hiển linh âm phù

2.5.3. Thế giới nhân vật

3. CHƯƠNG 3: LỄ HỘI CẦU MƯA TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ PHÁP Ở HƯNG YÊN

3.1. Lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên

3.1.1. Hội tổng Ôn Xá - Văn Lâm

3.1.2. Hội Tứ pháp huyện Yên Mỹ

3.1.3. Hội chùa Thứa và Thanh Xá

3.1.4. Lễ hội cầu mưa ở Lạc Hồng

3.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết về Tứ pháp và lễ hội cầu mưa ở Hưng Yên

3.2.1. Sự hiện thực hóa của truyền thuyết về Tứ pháp qua lễ hội cầu mưa

3.2.2. Lễ hội cầu mưa - nơi lưu giữ và phát huy giá trị của truyền thuyết về Tứ pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu Luận văn Truyền thuyết Tứ Pháp và Lễ hội Hưng Yên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sâu về mối liên hệ mật thiết giữa truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa tại Hưng Yên, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa dân gian. Tứ PhápPháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện – tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên quan trọng trong nền văn minh lúa nước. Việc thờ cúng các vị thần này không chỉ thể hiện tín ngưỡng nông nghiệp cổ sơ mà còn phản ánh khát vọng về cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của người dân. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh văn hóa dân gian, lịch sử hình thành, và ý nghĩa văn hóa của truyền thuyếtlễ hội, đồng thời đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa này trong bối cảnh hiện đại. Tác giả luận văn đã khảo sát thực địa tại nhiều địa điểm thờ Tứ PhápHưng Yên, thu thập tư liệu từ các bản thần tích, lời kể dân gian, và tài liệu nghiên cứu liên quan để xây dựng một bức tranh toàn diện về văn hóa Hưng Yên.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu văn hóa dân gian Hưng Yên

Văn hóa dân gian là kho tàng vô giá lưu giữ bản sắc văn hóa của dân tộc. Nghiên cứu văn hóa dân gian giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về phong tục tập quán, tín ngưỡng, và giá trị truyền thống của cộng đồng. Đối với Hưng Yên, việc nghiên cứu truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là những yếu tố cấu thành nên bản sắc văn hóa độc đáo của địa phương. Luận văn góp phần làm sáng tỏ lịch sử hình thànhý nghĩa văn hóa của các di sản văn hóa này, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy hiệu quả.

1.2. Mối liên hệ giữa truyền thuyết lễ hội và tín ngưỡng dân gian

Truyền thuyết, lễ hội, và tín ngưỡng dân gian có mối liên hệ mật thiết với nhau. Truyền thuyết cung cấp cơ sở cho lễ hội, trong khi lễ hội là phương thức để truyền thuyết được lưu giữ và lan tỏa trong cộng đồng. Tín ngưỡng dân gian là nền tảng tinh thần cho cả truyền thuyếtlễ hội. Trong trường hợp Tứ Pháplễ hội Cầu MưaHưng Yên, truyền thuyết về các vị thần mưa, gió, sấm, chớp giải thích ý nghĩa văn hóalịch sử hình thành của lễ hội. Lễ hội là dịp để người dân thể hiện tín ngưỡng, cầu mong cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Luận văn đi sâu vào phân tích mối quan hệ này để làm sáng tỏ các giá trị văn hóa dân gian của Hưng Yên.

II. Thách thức Nghiên cứu Truyền thuyết Tứ Pháp bị mai một ở Hưng Yên

Mặc dù truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa có vai trò quan trọng trong văn hóa Hưng Yên, nhưng thực tế cho thấy các giá trị này đang đối diện với nhiều thách thức trong bối cảnh xã hội hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm thay đổi phong tục tập quántín ngưỡng của người dân. Lễ hội truyền thống có nguy cơ bị giản lược, thậm chí bị biến tướng. Truyền thuyết ít được quan tâm, truyền bá trong thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, nhân lực, và phương pháp tiếp cận. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các thách thức này, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa dân gian của Hưng Yên.

2.1. Ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến văn hóa truyền thống Hưng Yên

Công nghiệp hóađô thị hóa mang lại nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội, nhưng cũng đồng thời gây ra những tác động tiêu cực đến văn hóa truyền thống. Phong tục tập quán dần bị thay đổi do lối sống hiện đại. Tín ngưỡng bị suy giảm do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật. Lễ hội có nguy cơ bị giản lược hoặc bị biến tướng do thiếu sự quan tâm của cộng đồng và chính quyền địa phương. Nghiên cứu này làm rõ những tác động này đối với truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu MưaHưng Yên.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực cho bảo tồn di sản văn hóa Hưng Yên

Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đòi hỏi nguồn lực lớn về tài chính, nhân lực, và vật lực. Tuy nhiên, Hưng Yên là một tỉnh còn nhiều khó khăn về kinh tế, do đó nguồn lực dành cho văn hóa còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến việc trùng tu, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, tổ chức các lễ hội truyền thống, và nghiên cứu về văn hóa dân gian. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội để tăng cường công tác bảo tồn di sản văn hóaHưng Yên.

III. Cách tiếp cận Nghiên cứu Phương pháp Phân tích giá trị Tứ Pháp

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa văn học, văn hóa học, lịch sử học, và dân tộc học để phân tích truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa. Tác giả tiến hành khảo sát thực địa tại các địa điểm thờ Tứ PhápHưng Yên, phỏng vấn các nghệ nhân, người cao tuổi, và cán bộ văn hóa để thu thập thông tin. Bên cạnh đó, luận văn sử dụng phương pháp phân tích văn bản, so sánh đối chiếu, và tổng hợp để làm sáng tỏ lịch sử hình thành, ý nghĩa văn hóa, và giá trị của truyền thuyếtlễ hội. Đặc biệt, luận văn chú trọng đến việc phân tích giá trị của Tứ Pháp trong đời sống tinh thần của người dân Hưng Yên.

3.1. Khảo sát thực địa và phỏng vấn cộng đồng địa phương Hưng Yên

Khảo sát thực địa là phương pháp quan trọng để thu thập thông tin trực tiếp từ cộng đồng địa phương. Tác giả đã đến các địa điểm thờ Tứ PhápHưng Yên, quan sát các nghi lễ, phỏng vấn các nghệ nhân, người cao tuổi, và cán bộ văn hóa để tìm hiểu về truyền thuyết, lễ hội, và tín ngưỡng. Thông tin thu thập được từ khảo sát thực địa giúp cho nghiên cứu trở nên sinh động và chân thực hơn.

3.2. Phân tích văn bản và so sánh đối chiếu truyền thuyết Tứ Pháp

Phân tích văn bản là phương pháp để giải mã ý nghĩa và giá trị của truyền thuyếtlễ hội. Tác giả đã phân tích các bản thần tích, lời kể dân gian, và tài liệu nghiên cứu liên quan để làm sáng tỏ lịch sử hình thành, ý nghĩa văn hóa, và giá trị của truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa. So sánh đối chiếu các dị bản của truyền thuyết giúp cho nghiên cứu có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn.

IV. Truyền thuyết Tứ Pháp Hưng Yên Gìn giữ nét đẹp văn hóa dân gian

Truyền thuyết Tứ PhápHưng Yên không chỉ là những câu chuyện kể về các vị thần mưa, gió, sấm, chớp mà còn là những biểu tượng văn hóa, phản ánh tín ngưỡng, phong tục tập quán, và khát vọng của người dân. Các truyền thuyết này thể hiện sự hòa hợp giữa Phật giáotín ngưỡng bản địa, giữa yếu tố tâm linhđời sống thực tiễn. Nghiên cứu cho thấy truyền thuyết Tứ Pháp có vai trò quan trọng trong việc gìn giữtruyền bá các giá trị văn hóa dân gian của Hưng Yên.

4.1. Yếu tố bản địa trong truyền thuyết Tứ Pháp ở Hưng Yên

Mặc dù có nguồn gốc từ Phật giáo, nhưng truyền thuyết Tứ PhápHưng Yên đã được bản địa hóa, mang đậm dấu ấn của văn hóa Việt. Các nhân vật trong truyền thuyết được mô tả gần gũi với đời sống của người dân. Các tình tiết trong truyền thuyết phản ánh phong tục tập quántín ngưỡng của cộng đồng. Yếu tố bản địa này giúp cho truyền thuyết Tứ Pháp trở nên quen thuộc và được người dân Hưng Yên yêu mến.

4.2. Giá trị giáo dục và thẩm mỹ của truyền thuyết Tứ Pháp

Truyền thuyết Tứ Pháp không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn có giá trị giáo dục và thẩm mỹ. Các truyền thuyết này dạy cho người dân về lòng biết ơn đối với thiên nhiên, về tinh thần đoàn kết cộng đồng, và về những giá trị đạo đức tốt đẹp. Các truyền thuyết này còn mang đến những cảm xúc thẩm mỹ, giúp cho người dân yêu thêm quê hương đất nước.

V. Phát huy giá trị truyền thuyết Tứ Pháp thông qua lễ hội cầu mưa

Lễ hội Cầu Mưa là dịp để người dân Hưng Yên thể hiện tín ngưỡng, cầu mong cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội là nơi truyền thuyết Tứ Pháp được tái hiện một cách sinh động, giúp cho các giá trị văn hóa được gìn giữtruyền bá. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát huy giá trị truyền thuyết Tứ Pháp thông qua việc tổ chức các lễ hội một cách bài bản, chuyên nghiệp, và phù hợp với bối cảnh hiện đại.

5.1. Vai trò của lễ hội trong việc bảo tồn và phát huy truyền thuyết

Lễ hội đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồnphát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là truyền thuyết. Thông qua các nghi lễ, trò chơi, và hoạt động văn nghệ, lễ hội giúp cho truyền thuyết được tái hiện một cách sinh động, thu hút sự quan tâm của cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Lễ hội cũng là dịp để các nghệ nhân, người cao tuổi truyền lại những kiến thức và kinh nghiệm về truyền thuyết cho thế hệ sau.

5.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội cầu mưa Hưng Yên

Để phát huy giá trị truyền thuyết Tứ Pháp thông qua lễ hội Cầu Mưa, cần có các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội. Cần chú trọng đến việc bảo tồn các nghi lễ truyền thống, đồng thời sáng tạo các hoạt động mới phù hợp với bối cảnh hiện đại. Cần tăng cường quảng bá lễ hội để thu hút du khách và sự quan tâm của cộng đồng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các tổ chức văn hóa, và cộng đồng địa phương để tổ chức lễ hội một cách thành công.

VI. Kết luận và hướng phát triển Nghiên cứu Tứ Pháp bền vững

Luận văn đã làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu MưaHưng Yên, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữphát huy bản sắc văn hóa của Hưng Yên. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu sắc hơn về Tứ Pháp để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn.

6.1. Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Hưng Yên

Luận văn góp phần bảo tồnphát huy bản sắc văn hóa của Hưng Yên bằng cách làm sáng tỏ các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là truyền thuyết Tứ Pháplễ hội Cầu Mưa. Kết quả nghiên cứu giúp cho cộng đồng và chính quyền địa phương nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc gìn giữtruyền bá các giá trị văn hóa dân gian.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về tín ngưỡng và văn hóa dân gian

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu sắc hơn về Tứ Pháp, về tín ngưỡngvăn hóa dân gianHưng Yên. Cần tập trung vào việc nghiên cứu các khía cạnh chưa được khám phá, ví dụ như ảnh hưởng của Tứ Pháp đến đời sống kinh tế, xã hội, và môi trường của cộng đồng. Cần có sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, các tổ chức văn hóa, và cộng đồng địa phương để thực hiện các nghiên cứu này một cách hiệu quả.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THUYẾT, LỄ HỘI 1. Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết và lễ hội 1. Truyền thuyết Các nhà folklore quan niệm truyền thuyết là một thể loại riêng biệt là những truyện ngắn kể về những sự kiện trong quá khứ như: những sự kiện lịch sử; những nhân vật lịch sử; những địa danh, những công trình văn hóa, danh thắng; những hiện tượng thiên nhiên như: Sấm chớp, bão lụt….những câu chuyện nêu trên không cần đảm tính chính xác về mặt lịch sử nhưng có cốt lõi lịch sử trong đó. Với đặc điểm đó, truyền thuyết dân gian luôn tạo cho mình một sức hấp dẫn đặc biệt so với các thể loại văn học dân gian khác.

Ở Việt Nam truyền thuyết đã xuất hiện, tồn tại và phát triển như là sự thay thế, sự hóa thân của thể loại sử thi dân tộc. Việc nghiên cứu về truyền thuyết đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chỉ riêng khái niệm về truyền thuyết cũng có rất nhiều kiến được đưa ra như: Các tác giả nhóm Lê Qúy Đôn từ những năm 50 của thế kỷ XX, trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, đã định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử, mà có những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lí, hoặc kể lại một gốc tích sự vật gì, hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp và tất cả những chuyện kỳ lạ khác”[10; 60] Còn trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi lại định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử và truyện lịch sử chỉ có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của mình”[4]. download by : skknchat@gmail.com 10 Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi nhận định: “Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương”[14].

Trong bài Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử, ông Phan Trần cũng đã nêu lên định nghĩa về truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử. Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân”[41]. Trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian, tác giả Kiều Thu Hoạch đưa ra một định nghĩa về truyền thuyết khá toàn diện; “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian. Nội dung cốt truyện kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân.

Biện pháp nghệ thuật phổ biến là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích, thần thoại”[17]. Các khái niệm trên đều đã nêu được nội dung phản ánh và đặc trưng trong nghệ thuật phản ánh của truyền thuyết xong chưa có tính khái quát. Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ đã đưa ra một khái niệm tương đối thuyết phục và được phổ biến đó là: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ”[35]. Về cơ bản, đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh về thể loại truyền thuyết.

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn khái niệm này là cơ sở lý luận trong quá trình nghiên cứu. download by : skknchat@gmail.com 11 Như vậy qua các khái niệm truyền thuyết của các tác giả khác nhau đều nhắc tới những đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết đó là: có gắn bó chặt chẽ với cốt lõi lịch sử, nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nhất định, được nhìn nhận qua lăng kính của nhân dân với sự hư cấu, kỳ ảo. Nó chính là một thể loại kết hợp hài hòa giữa văn và sử. Đặc trưng này chính là một dấu hiệu quan trọng để giúp ta phân biệt giữa truyền thuyết với các thể loại truyện dân gian khác, đồng thời cũng làm nên nét độc đáo của thể loại truyền thuyết.

Thông qua hệ thống truyền thuyết dân gian của Việt Nam, các tác giả dân gian đã tái hiện chân dung đời sống tinh thần của dân tộc. Đó là sự lý giải đầy tự hào về sự hình thành về nòi giống của dân tộc; tái hiện quá trình chinh phục thiên nhiên, xây dựng nền văn hiến; thể hiện lòng tự hào, ngưỡng mộ với các danh nhân văn hóa; ngợi ca nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược… Về việc phân loại truyền thuyết các nhà folklore thế giới có nhiều cách phân loại, người chia làm 4 loại như cách chia của hội nghiên cứu văn học tự sự dân gian quốc tế: truyền thuyết khởi nguyên; truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết thần thoại; truyền thuyết tôn giáo. Ở Việt Nam năm 1990, Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam đã chia truyền thuyết làm 3 loại: truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Lễ hội Bên cạnh vai trò phán ánh lịch sử một cách độc đáo, truyền thuyết còn có mỗi quan hệ đặc biệt với nghi lễ, hội lễ.

Các nhân vật trong truyền thuyết là những anh hùng dân tộc hay những danh nhân văn hóa được tái hiện bằng tình cảm yêu mến và cảm phục của nhân dân. Họ đã bước ra khỏi những câu chuyện để trở thành những nhân vật thiêng như Thành hoàng, ông tổ nghề, thần thiêng bảo hộ cho các vùng đất. Hằng năm, để tưởng nhớ công lao và giáo dục truyền download by : skknchat@gmail.com 12 thống cho thế hệ sau nhân dân tổ chức các nghi thức tế lễ. Do vậy, truyền thuyết là cơ sở để giải thích và khiến cho lễ hội có nội dung thiêng, còn lễ hội lại là mảnh đất để di dưỡng truyền thuyết trong đời sống dân gian.

Đó là cở sở hình thành mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội. Khi nghiên cứu về đặc tính và ý nghĩa “Lễ hội” ở nước Nga M.Bachie cho rằng: “Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò biểu diễn, đó là cuộc sống chiến đấu của cộng đồng cư dân. Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu. Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả”.(Dẫn theo https://giaoviendulich.com/2010/01/24) Ở Việt Nam lễ hội – là một nét đẹp văn hóa mang tính cộng đồng của cư dân nước Việt.

Từ ngàn đời xưa lễ hội không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa dân gian mà nó còn phản ánh tư duy, thái độ, tình cảm của cư dân nông nghiệp một cách rõ nét. Tuy nhiên, định nghĩa về lễ hội cũng có nhiều những quan niệm khác nhau như: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê đã định nghĩa: “Lễ hội là cuộc vui tổ chức chung có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc”[38]. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, tác giả Huỳnh Bá Công đã nhận định: “Lễ hội ở đây được nhìn tổng quát chỉ cả lễ tết và hội hè, trong đó lễ là để dâng hương thần thánh, còn hội là để mua vui cho mọi người trong cộng đồng, tất cả đều nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần, tâm linh của con người”[4]. download by : skknchat@gmail.com 13 Trong cuốn Từ điển hội lễ Việt Nam, tác giả Bùi Thiết cho rằng: “Hội lễ là cách gọi cô đọng nhằm để chỉ toàn bộ các hoạt động tinh thần, phản ánh những tập tục, vật hiến tế, lễ nghi dâng cúng, những hội hè đình đám của một cộng đồng làng xã nhất định”[47;2].

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một kho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc.lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”[33;53]. Từ những khái niệm như trên có thể thấy lễ hội bao gồm 2 phần chính: phần lễ và phần hội, luôn đan xen, gắn liền, không tách rời, trong đó: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Lễ xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh. Con người thực hiện phần lễ để thể hiện niềm tin vào những lực lượng siêu nhiên, thể hiện niềm mong ước có một cuộc sống tốt đẹp, mùa màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, quốc thái, dân an.

“Hội là sự tập hợp đông người để thực hành diễn xướng, trình diễn các phong tục, tín ngưỡng, các hình thức văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật, các sinh hoạt tinh thần xã hội”(Dẫn theo http://ajc.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Gia- tri-lich-su-truyen-thong-van-hoa-cua-le-hoi/19727. Sau những nghi lễ trang nghiêm, việc tham gia vào những sinh hoạt cộng đồng này lại là lúc con người được nghỉ ngơi, thư giãn nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mặt tinh thần của quần chúng. Nguồn gốc hình thành lễ hội truyền thống của nước ta thường được lý giải trên ba cơ sở chính: Thứ nhất là môi trường tự nhiên và hoạt động sản xuất. Đất nước Việt Nam ra đời là kết quả của quá trình vận động, biến đổi tự download by : skknchat@gmail.com 14 nhiên, địa lí, địa chất diễn ra cách đây hàng triệu năm.

Cùng với địa hình thấp, nhiều đồng bằng, hệ thống sông ngòi chằng chịt với lượng phù sa lớn được bồi đắp hằng năm , khí hậu nhiệt đới gió mùa là những điều kiện phù hợp với gieo trồng lúa nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ