Chương 1: TRANG THẾ HY VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 1.1 Giới thiệu đôi nét về nhà văn Trang Thế Hy 1.1 Tiểu sử Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh (còn có một số bút danh khác như: Văn Phụng Mỹ, Vũ Ái, Văn Minh Phẩm, Triều Phong, Phạm Võ…), sinh ngày 9 tháng 10 năm 1924 tại xã An Hội ( nay là xã Hữu Định), huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, miền đất của phong trào Đồng Khởi, một vùng địa linh nhân kiệt với Nữ tướng rừng Dừa - Nguyễn Thị Định và nhiều danh nhân văn hoá: Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, Ca Văn Thỉnh, Lê Anh Xuân… Thời thơ ấu, Trang Thế Hy học trường tiểu học ở huyện nhà, sau lên học trường Trung học Mỹ Tho… Trong những năm 1942-1943, cuộc sống đã khiến anh thanh niên Võ Trọng Cảnh rời quê lên Sài Gòn kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau như làm kiểm vé xe điện, làm thủ kho…Trang Thế Hy bước vào tuổi trưởng thành ngay thời điểm chín muồi của cách mạng Việt Nam. Yêu nước và sớm giác ngộ cách mạng, sau khi tham gia giành chính quyền tại Bến Tre, Trang Thế Hy thoát ly gia đình vào chiến khu. Sau hiệp định Genève năm 1954, ông được phân công ở lại hoạt động hợp pháp ở nội thành Sài Gòn trên lĩnh vực văn nghệ. Thời gian này, trong khi nhiều người chọn nguyện vọng tập kết ra Bắc, Võ Trọng Cảnh xin được ở lại bám quê, mai phục đấu tranh chờ ngày thống nhất đất nước.
Cho đến năm 1956, tình hình bắt đầu cam go, cán bộ cách mạng bị địch săn đuổi rất gắt gao. Lúc bấy giờ, tỉnh có chủ trương đưa những cán bộ bị truy đuổi ráo riết lánh đi, rồi hoạt động công khai, tạo thế hợp pháp mới. Ông được lệnh đi “điều lắng” và được chọn Sài Gòn là địa bàn hoạt động mới. Thời gian đầu, ông phải tự xoay sở kiếm sống.
Đầu tiên là dạy kèm trẻ tại tư gia, tiếp đó là sửa bản in ở các nhà xuất bản nhỏ. Nhờ những năm tháng dạy học mà con người hiếu học, đầy ý chí phấn đấu ấy tiếp tục tự học (vì ông chưa học hết bậc trung học) và tự học thêm tiếng Pháp. Ông đã tìm đọc, tìm mua nhiều sách cũ bằng tiếng Pháp để nâng cao vốn ngoại ngữ của mình. Cũng chính từ đây, ông có cơ hội tiếp xúc với các nền văn học thế giới, “gặp gỡ” được những nhà văn lớn của thế giới như Tshekov, Gorki, Dostoievski, Hemingway, Lỗ Tấn…Công việc sửa chữa bản in cũng là một nhịp cầu đầy duyên nợ kết nối ông với văn chương.
Ông được đọc nhiều tác phẩm của các tác giả đương thời và nhận ra được nhiều điều bổ ích. Chính từ đây, sự tự tin của một con người ham học hỏi, sự quyết tâm của một cán bộ tuyên huấn đã khiến ông nảy sinh ý tưởng: mượn văn chương để làm công tác tuyên truyền. Ông bắt đầu bén duyên với văn chương nhờ sự động viên, khuyến khích của các đàn anh trong nghề như Viễn Phương, Sơn Nam, Lý Văn Sâm….Truyện ngắn đầu tiên của ông đã ra đời và được đăng trên báo Nhân Loại với bút danh Văn Phụng Mỹ (với ý nghĩa văn chương phụng sự cái đẹp). Năm 1959, ông chính thức lấy bút danh Trang Thế Hy.
Do những tác phẩm mang nội dung yêu nước nên ông bị bắt giam năm 1962. Trong tù, con người ham học ấy lại tranh thủ học thêm chữ Hán từ các giáo sư bị giam chung. Năm 1964, ông thoát ly ra vùng giải phóng và công tác ở Ban tuyên huấn đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Từ năm 1957 đến đầu năm 1962, bên cạnh Sơn Nam, Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Bình Nguyên Lộc, Tiêu Kim Thủy… Trang Thế Hy cũng là cây bút chủ lực trên tuần báo Nhân loại bộ mới.
Thời gian sống ở Sài Gòn, ông còn viết cho các tờ Bách Khoa, Vui Sống, Ngày Mới. Khi vào vùng giải phóng (1964), ông làm việc ở Ban Tuyên huấn đặc khu Sài Gòn - Gia Định, sau chuyển sang tiểu ban Văn nghệ Giải phóng cho đến ngày 30-4-1975. Từ 1975 đến 1990, ông là cán bộ biên tập tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1992, ông lặng lẽ từ biệt Sài gòn phồn hoa đô hội, tự mình “đi chỗ khác chơi”.
Những người yêu mến Trang Thế Hy có nhiều cách nhìn, cách lý giải khác nhau về việc ẩn cư của ông. Trang Thế Hy thì cho rằng việc này chính là."đi chỗ khác chơi". Ông cho biết: "Tôi có được suy nghĩ này từ lời khuyên của một nghệ sĩ già, ông bảo: khi nào con viết hết được rồi thì nên biết đi chỗ khác chơi, đừng có bẹo hình bẹo dạng trong chốn trường văn trận bút, nhất là đừng để cho những người yêu mến mình phải đọc những câu lếu láo”. Với vầng trán rộng thông minh và mái tóc nghệ sĩ, nước da bánh ít, với vẻ bình dị, ít nói khiến ai mới thoáng nhìn cũng có thể nghĩ Trang Thế Hy là người của vườn tược.
Với đôi mắt sâu hay nhìn xuống lúc đi lại, ông sống lủi thủi chỗ không ồn ào như người có tâm sự thầm kín. Có thể nói ông là mẫu người hướng nội với tình cảm sâu lắng, không thường biểu lộ ra ngoài bằng ngôn ngữ và hành động cụ thể…. Ông thích yên lặng, thích đằm mình trong những suy tưởng riêng tư. Bởi đời sống, với ông, là một cái gì thiêng liêng, nên cách sống của ông là cách sống của một người rất kỹ tính.
Chẳng những mọi suồng sã trong tình cảm, mọi xô bồ hỗn tạp trong giao tiếp xa lạ với ông, mà cả những lối sống, lối nghĩ hời hợt, nhợt nhạt, theo ông đều là không thể chấp nhận được. Và đó cũng là hình ảnh của ông mà người đọc tiếp nhận được qua tác phẩm. Trong chừng mực nào đó, hình ảnh con người Trang Thế Hy hiện lên qua tác phẩm là một con người ý nhị nhưng buồn rầu, tốt bụng nhưng lạnh lùng, luôn nhạy cảm với nỗi đau khổ của con người, làm say mê lòng người nhưng lòng mình lại buồn chán. Sự buồn chán ở đây thật ra là đồng nghĩa với sự lương thiện.
Sự buồn chán mà với Trang Thế Hy chỉ có những người hết lòng với cuộc sống mới có thể cảm thấy hết ý nghĩa buồn chán của nó. Có dịp tiếp xúc, gần gũi với nhà văn Trang Thế Hy mới biết ông thông tiếng Pháp, đọc nhiều tác phẩm của Anatole France, Guy de Maupassant, Gustave Flaubert… và Ernest Hemingway, Lỗ Tấn… Với kiến thức rộng được tiếp thụ từ văn học thế giới, nhất là nền văn chương Pháp, Trang Thế Hy có được một óc tưởng tượng phong phú và một văn phong mượt mà giàu chất lãng mạn. Sức mạnh tinh kết từ ưu thế của ngòi bút tài hoa Trang Thế Hy dường như được dàn trải đều đặn trong tác phẩm của ông. Dù sao thì con người Trang Thế Hy, cũng như tác phẩm, là con người yêu sự thẳng thắn, chống bất công và những chuyện bất bình, yêu sự thật, không quỳ lụy quyền hành dù là với những người bạn từng chung chiến đấu thời kháng chiến.2 Quá trình sáng tác Hơn nửa thế kỷ sáng tạo, nhà văn Trang Thế Hy chỉ viết khoảng gần 50 truyện ngắn.
Tuy nhiên nhiều truyện ngắn của ông được in trong các tuyển tập và được đánh giá là những truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Điều này cho thấy sức hấp dẫn và sức sống của truyện ngắn của Trang Thế Hy đối với thời gian và tâm hồn con người. Trang Thế Hy bắt đầu bén duyên với văn chương từ năm 1956 và tiếp tục viết với một tốc độ không nhanh nhưng bút lực sung mãn cho đến những năm 90 của thế kỉ XX. Văn Trang Thế Hy cũng là con người Trang Thế Hy, một con người kiên nghị và trầm tĩnh.
Mọi thay đổi, biến thiên của cuộc đời đều được ông chế ngự được một cách dũng cảm. Ông viết không nhiều về số lượng, không viết cho thị hiếu, thời thượng, chỉ viết cho người đọc tự giác nhất và cho chính mình, bất kể qui luật cung cầu của thị trường chữ nghĩa. Trong đời sống thường ngày cũng thế, ông không có cuộc sống nào khác ngoài sống với văn chương và nhân thế, viết và sống đối với ông bao giờ cũng chỉ là một, chỉ có một. Đọc truyện của ông, ta thấy ngập tràn sự sống - một sự sống đa dạng, phong phú.
Phải chăng đó là kết tinh từ những nỗi đau và hạnh phúc, từ nước mắt và nụ cười của bao con người Nam Bộ trước những biến động vô thường của cuộc sống? Cuộc sống mà chính bản thân nhà văn đã trải nghiệm. Và đằng sau những mảnh vụn, những lát cắt của cuộc sống ấy thường toát lên những bài học nhân sinh, dù rất nhẹ nhàng nhưng có sức lay động sâu xa những tâm hồn nhạy cảm. Những gì mà ông xây dựng, khám phá đều xuất phát từ trái tim của một con người Nam Bộ có tình yêu nồng nàn với quê hương xứ sở, và trên hết là tấm lòng của nhà văn đối với cuộc đời. Cho nên truyện ngắn Trang Thế Hy đến với người đọc không ồn ào như một số hiện tượng văn học cá biệt, mà rất âm thầm, ý nhị và không biết tự bao giờ đã len vào trái tim của nhiều độc giả rồi neo lại ở một góc nhỏ.1 Các giai đoạn sáng tác Có thể tạm chia quá trình sáng tác của Trang Thế Hy ra làm hai giai đoạn, thể hiện được khá rõ sự chuyển biến và thay đổi về đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật từ giai đoạn này sang giai đoạn khác.
Giai đoạn thứ nhất : từ 1956 đến 1975 Cũng như phần lớn các nhà văn yêu nước và cách mạng vùng thành thị miền Nam, trong thời gian này ông lấy nhiều bút danh khác nhau để tránh sự kìm kẹp và đàn áp của kẻ thù, đó là các bút danh như: Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Văn Minh Phẩm, Trang Thế Hy. Các sáng tác tiêu biểu của nhà văn trong giai đoạn này là: Nắng đẹp miền quê T 1 ngoại, Anh Thơm râu rồng. Những sáng tác của ông vào giai đoạn này thường sử dụng một T 1 T 1 1T cách khá tinh tế và uyển chuyển lối viết mang tính ẩn dụ với lối biểu tượng hai mặt nhằm “vượt qua” tình thế chính trị hết sức khó khăn tại thời điểm đó, vươn tới thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí căm thù giặc mãnh liệt.