Chương 1. Cơ sở lý luận về pháp nhân và trách nhiệm dân sự của pháp nhân Chương 2. Thực trạng các quy định pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm dân sự của pháp nhân ở Việt Nam Chương 3. Cơ sở định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm dân sự của pháp nhân ở Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA PHÁP NHÂN 1. Khái quát chung về pháp nhân 1. Khái niệm pháp nhân Trong đời sống xã hội các quan hệ đƣợc hình thành không chỉ hình thành từ các cá nhân riêng biệt, mà còn bao gồm rất nhiều các hoạt động của những hội, những tổ chức, đoàn thể (bao gồm nhiều cá nhân liên kết với nhau). Nhu cầu của pháp luật mỗi quốc gia cần thiết phải điều chỉnh các hoạt động của những nhóm ngƣời đó, hay nói cách khác cần tạo ra thực thể pháp lý có tƣ cách chủ thể độc lập với những ngƣời hình thành.
Trong lịch sử các nghiên cứu về vấn đề pháp nhân, những học thuyết pháp lý về pháp nhân đƣợc ra đời, đã lý giải theo nhiều hƣớng khác nhau về sự xuất hiện, phát triển của pháp nhân trong mối tƣơng quan với các chủ thể quan hệ pháp luật khác. “Thuật ngữ Pháp nhân có nguồn gốc theo tiếng latinh nghĩa là một nhóm hoặc hội đồng người. Một thực thể thực hiện các hoạt động kinh doanh và là chủ thể có các quyền năng pháp lý xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và đế chế Maya ở Ấn độ cổ đại” [57]. Tuy ra đời từ rất sớm do nhu cầu liên kết của con ngƣời, nhƣng đến nay, pháp nhân có rất nhiều các định nghĩa khác nhau.
Nhìn chung, các định nghĩa đều nêu ra rằng, pháp nhân là một thực thể pháp lý đƣợc ra đời nhằm đáp ứng điều kiện của đời sống xã hội và hoạt động lập pháp của nhà nƣớc. Có thể kể đến các định nghĩa sau: Pháp nhân là một định nghĩa trong luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thƣờng dùng trong luật kinh tế. Về pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân có rất nhiều quan điểm và học thuyết nhƣ: có thuyết cho pháp nhân là một chủ thể giả tạo, có thuyết cho nó là một chủ thể thực sự v. nhƣng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra đƣợc các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tƣơng tự nhƣ thể nhân [56].
Theo định nghĩa trên, pháp nhân là một thực thể mang tính hội đoàn gồm tập hợp nhiều ngƣời, có đời sống đầy đủ giống nhƣ một thể nhân. Trong các quan hệ pháp luật, pháp nhân có thể đƣợc tổ chức dƣới các hình thức khác nhau, hoạt động vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Vì thế, trong quy định của Hiệp định thƣơng mại giữa Cộng hoà XHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ về thƣơng mại năm 2001 cho rằng: Pháp nhân là một thực thể pháp lý bất kỳ đƣợc thiết lập hay tổ chức một cách hợp pháp theo luật áp dụng, bất kể vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, và dƣới hình thức sở hữu tƣ nhân hay nhà nƣớc, bao gồm mọi công ty, công ty tín thác, công ty hợp danh, liên doanh, doanh nghiệp một chủ hay hiệp hội [7, chƣơng 3 điều 11]. Tuy vậy, pháp nhân không phải là một sản phẩm của luật pháp cận đại, bởi trong pháp luật thời kỳ La Mãcổ đại và đế chế Maya ở Ấn độ cổ đại, pháp nhân đã đƣợc pháp luật ghi nhận và quy định đáp ứng nhu cầu của xã hội: Trong cổ luật La Mã, tuân theo xu hƣớng nhân hóa, luật pháp đã đồng hóa những đoàn thể cá nhân hay tập hợp tài sản này với những ngƣời thƣờng và công nhận cho các thực thể ấy một nhân cách pháp lý hoặc một nhân cách dân sự, các thực thể ấy gọi là pháp nhân [33, tr 368-369].
Pháp nhân là sản phẩm do pháp luật nhân cách hóa để chỉmột chủ thể mà chung ta “không nhìn thấy được, cũng chẳng sờ mó được; tuy nhiên, nó được làm một số việc giống như một con người bình thường và có trách nhiệm lẫn quyền lợi” [1, tr65-66].Chứng ta có thể chỉ xác định đƣợc các pháp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân thông qua sự hình thành dƣới một tên riêng, có trụ sở hoạt động ổn định, có tài sản riêng độc lập với tài sản của các sáng lập viên sinh ra chúng, thông qua ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân khi tham gia các quan hệ pháp luật. Trong pháp nhân,các chủ sở hữu tham gia cùng góp vốn thành lập và hoạt động của pháp nhân, họ không phải là các đồng sở hữu chung của các tài sản đó, mà hình thành một thực thể (là pháp nhân) sẽ là chủ sở hữu của tất cả các tài sản mà các thành viên đã góp vào và pháp nhân sẽ chịu trách nhiệm pháp lý trên toàn bộ tài sản trong các quan hệ pháp luật. Pháp nhân là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, về bản chất là một phƣơng thức đặc thù về tổ chức hoạt động kinh tế, thể hiện ở sự tách bạch, cá thể hoá tài sản, nghĩa là tách ra một phần tài sản riêng biệt để tạo nên một chủ thể riêng biệt, độc lập. Chính sự cá thể hoá tài sản đã tạo cho pháp nhân sự độc lập về mặt pháp lý trong quan hệ với cá nhân những ngƣời sáng lập ra pháp nhân và có khả năng tham gia một cách độc lập trong các giao lƣu dân sự, chịu trách nhiệm một cách độc lập về tài sản với các đối tác của mình.
Điều này tạo cho các chủ thể kinh doanh sự năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, trong nền kinh tế thị trƣờng với sự cạnh tranh khốc liệt [22, tr 104-105]. Các tài sản của pháp nhân đƣợc ban đầu đƣợc hình thành do các thành viên đóng góp và các tài sản phát sinh trong quá trình hoạt động hợp thành một khối tài sản riêng biệt với khối tài sản của các thành viên. Trong quá trình hoạt động của pháp nhân, nếu ngƣời thứ ba có tranh chấp tranh chấp với pháp nhân, ngƣời đó thay vì khởi kiện từng thành viên sáng lập thực hiện nghĩa vụ với mình, bên thức ba chỉ phải khởi kiện pháp nhân ra tòa án để thực hiện nghĩa vụ đó. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong pháp nhân yếu tố tài sản là hết sức quan trọng theo đó, tài sản của pháp nhân và tài sản của thành viên pháp nhân phải tách bạch nhau.
Các pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến trách nhiệm về tài sản của pháp nhân. “Một pháp nhân được hưởng được hưởng những quyền và có những nghĩa vụ tương tự như thể nhân, trừ những quyền và nghĩa vụ, vì tính chất của chúng, chỉ có thể dành cho hoặc mắc chịu bởi một thể nhân” (4, điều 70 các quyển I-VI). Nhƣ vậy, “pháp nhân là một khái niệm để chỉ một loại chủ thể quan hệ pháp luật độc lập với các chủ thể khác và thành viên của pháp nhân, pháp nhân ra đời đáp ứng điều kiện của đời sống kinh tế-xã hội và hoạt động lập pháp. Khác với các tự nhiên nhân, pháp nhân là một thực thể, có thể thực hiện chức năng của mình một cách hợp pháp, có thể kiện hoặc bị kiện và hoạt động thông qua vai trò của người đại diện” [25].
Ý nghĩa và vai trò của sự ra đời pháp nhân Sự ra đời của pháp nhân nhƣ một nhu cầu tất yếu của xã hội khi mà con ngƣời muốn liên kết lại với nhau tạo lên các sức mạnh mà một thể nhân không có. Các pháp nhân, cá nhân khi tham gia quan hệ pháp luật đều là các chủ thể độc lập, bình đẳng. Khi nghiên cứu ý nghĩa và vai trò của pháp nhân trong đời sống xã hội, giáo sƣ Jean Claude Ricci chỉ ra vai trò của pháp nhân nhƣ sau [8, tr 105-106]: - Thứ nhất, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật đƣợc đơn giản hóa. Pháp nhân cho phép đơn giản hóa các quan hệ pháp luật.
- Thứ hai, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật đƣợc ổn định lâu dài. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng. Ngƣời ta thƣờng hay nói rằng, pháp nhân không gặp phải những thay đổi bất ngờ nhƣ thể nhân. Thời gian tồn tại của một pháp nhân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thƣờng dài hơn cuộc sống của một con ngƣời.
Và hoạt động của pháp nhân có thể kéo dài, thậm chí rất dài. Pháp nhân không bị ảnh hƣởng bởi những biến cố xảy ra đối với thành viên của nó. Rõ ràng sự xuất hiện của pháp nhân đã làm cho các quan hệ pháp luật mà con ngƣời tạo ra đƣợc đơn giản hóa, khi mà pháp nhân thay thế cho hai hoặc rất nhiều các chủ thể cá nhân. Sự ra đời pháp nhân là để bảo vệ tốt lợi ích chung của nhóm với những ngƣời có quan hệ, cùng mục đích liên kết với nhau, cũng nhƣ lợi ích của ngƣời thứ ba có quan hệ với nhóm, cần công nhận sự tồn tại độc lập của nhóm so với cá nhân.
Vì thế, “nhóm được coi như có nhân thân của riêng mình, phân biệt với nhân thân của từng thành viên. Được nhân cách hóa, nhóm có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ, nghĩa là có năng lực hành vi, và có tài sản riêng bảo đảm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó”[18, tr 221-222]. Tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đƣợc gọi là pháp nhân ra đời và tồn tại là đòi hỏi khách quan của đời sống xã hội. Các tổ chức đó không đơn thuần là sự tập hợp các thành viên riêng lẻ mà là một thực thể thống nhất, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành viên [29, tr.
Mặt khác, cũng có thể thấy sự tồn tại của pháp nhân sẽ không bị ảnh hƣởng bởi sự thay đổi của các thành viên. Một pháp nhân đƣợc hình thành, hoạt động trong một thời gian dài, qua các thế hệ của cá nhân và tạo lên một giá trị đối với xã hội mà phải thể nhân có thể không bao giờ làm đƣợc. Tuy nhiên, sự ra đời của pháp nhân sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu không đƣợc pháp luật của nhà nƣớc ghi nhận và điều chỉnh nó. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự ra đời của pháp nhân là do pháp luật tạo ra hay pháp luật ghi nhận đời sống.