Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Con người là tế bào của xã hội, là vốn quý nhất của xã hội, là chủ thể của quan hệ xã hội cần được xã hội công nhận và bảo vệ các quyền con người. Trong các quyền con người thì quyền thiêng liêng và cao quý nhất là quyền sống. Đó là điều có ý nghĩa quan trọng nhất đối với bất kỳ cá nhân nào và là cơ sở để mỗi cá nhân con người có thể thực hiện được các quyền khác của mình được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Con người và các quyền con người trở thành đối tượng quan trọng được luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung bảo vệ. Các lĩnh vực liên quan đến con người được pháp luật hình sự bảo vệ bao gồm nhiều nội dung, nhưng nội dung trước tiên và quan trọng nhất đó là bảo vệ tính mạng của con người. Khi có hành vi xâm phạm đến quyền sống của con người nó sẽ làm đảo lộn và phá vỡ các quan hệ xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bản thân và gia đình nạn nhân, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự xã hội. Hành vi này cần được trừng trị một cách thích đáng, nghiêm khắc.
Hành vi xâm phạm đến quyền sống - hay xâm phạm tính mạng con người có nhiều dạng, với nhiều hình thức lỗi khác nhau cố ý hoặc vô ý. Nhưng cho dù dưới hình thức lỗi nào thì hành vi này đều thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội ở mức cao. Nguy hiểm nhất trong nhóm hành vi xâm phạm tính mạng con người là hành vi giết người. Hành vi này thể hiện ý chí cố ý tước đoạt tính mạng của người khác.
Do tính nguy hiểm cao độ nên trong pháp luật hình sự từ xưa đến nay ở bất kỳ quốc gia, hay bất kỳ chế độ, bất kỳ nhà nước nào cũng nghiêm trị hành vi giết người và áp dụng những hình phạt nghiêm khắc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất như tử hình (Điều 93, Bộ luật Hình sự năm 1999), chém (Điều 474 Quốc triều Hình luật)… Hành vi vô ý làm chết người được thực hiện với lỗi vô ý, mức độ nguy hiểm thấp hơn so với hành vi giết người. Nhưng cho dù vô ý cũng đã thể hiện sự nguy hiểm cao đối với xã hội. Do vậy việc quy định là tội phạm trong luật hình sự để đấu tranh phòng ngừa và chống hành vi nguy hiểm này thực sự cần thiết. Không những vậy, chế tài đưa ra cũng cần nghiêm khắc mới đáp ứng được đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Khi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là đáng kể, được coi là tội phạm và phải chịu hình phạt trong luật hình sự thì pháp luật hình sự trở thành công cụ hữu hiệu tác động đến hành vi sai lệch này. Đồng thời tác động đến ý thức của người dân nói chung tạo ra một ranh giới trong ý thức của họ về việc thực hiện các hành vi của mình và đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật này. Đây chính là thái độ của xã hội đối với hành vi đi ngược lại những chuẩn mực xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội. Việc chịu hình phạt đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.
Quá trình chấp hành hình phạt, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có điều kiện để cải tạo, giáo dục bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Việc quy định phù hợp giữa tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm và hình phạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó phát huy hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Hành vi càng thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao bao nhiêu thì hình phạt đối với hành vi ấy phải càng nghiêm khắc bấy nhiêu.
Khi hai yếu tố này tương xứng sẽ góp phần giảm thiểu mặt trừng trị của hình phạt. Không chỉ cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cả người phạm tội cũng nhận thấy hình phạt cho mình như vậy là thích đáng. Có như vậy, bản thân họ mới có thể cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong thực tiễn có rất nhiều hành vi xâm phạm tính mạng con người với nhiều hình thức lỗi khác nhau: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả.
Đối với trường hợp người phạm tội cố ý (bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp) xâm phạm tính mạng, thì tội danh được xác định luôn là giết người, hoặc giết người có dự mưu. trường hợp vô ý xâm phạm tính mạng con người thì được xác định là vô ý làm chết người. Việc xâm phạm tính mạng con người trong trường hợp này thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội. Trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam việc nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi này đã được các nhà nước nhận thức rõ và đã quy định tội vô ý làm chết người từ rất sớm.
Do kỹ thuật lập pháp ở mỗi giai đoạn lịch sử có khác nhau, nên việc quy định trong các văn bản pháp quy mỗi thời mỗi khác. Nhưng tựu trung lại, đều thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà nước trước hành vi nguy hiểm này. Quy định tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự là công cụ pháp lý để Nhà nước - thông qua bộ máy của mình - đấu tranh phòng chống tội phạm. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng khác nhau.
Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều gây những thiệt hại nhất định cho các quan hệ xã hội. Chúng là những hiện tượng xã hội tiêu cực cần phải được ngăn chặn, hạn chế và từng bước loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm vô ý làm chết người nói riêng và tội phạm nói chung đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách có hệ thống, đồng bộ, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, không ngừng bổ trợ, tương hỗ cho nhau để phát huy mặt tích cực và hạn chế những điểm yếu của từng biện pháp. Trên cơ sở đó, phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Đây không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Từ hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan tư pháp, đến các tổ chức chính trị, chính trị xã hội và đặc biệt quan trọng đó là ý thức đấu tranh phòng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngừa và chống tội phạm của chính mỗi người dân. Đồng thời sử dụng nhiều biện pháp từ những biện pháp nhẹ nhàng như giáo dục, thuyết phục, rồi tăng dần đến các biện pháp cưỡng chế - trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất. Trước đòi hỏi đó, Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 đã quy định tội vô ý làm chết người tại Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên tại quy định năm 1985, cấu thành tội phạm vô ý làm chết người được quy định gộp hai loại hành vi trong một cấu thành tội phạm chung. Bao gồm hành vi vô ý làm chết người và hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính. Do hai hành vi làm chết người này có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là khác nhau. Do đó, việc quy định như vậy chưa đáp ứng được đòi hỏi của việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
Đồng thời, hai tội phạm này có những đặc điểm riêng, yêu cầu đặt ra là hai hành vi này cần thiết phải xây dựng thành các cấu thành tội phạm của các tội danh khác nhau. Việc quy định riêng biệt cấu thành tội phạm của chúng là cơ sở để quy định dấu hiệu trong mỗi cấu thành tội phạm phù hợp ở mức cao nhất với đặc điểm và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và hình phạt tương ứng. Đồng thời cho phép tiếp tục phân hóa các cấu thành tội phạm này trong phạm vi từng tội danh. Điều này thể hiện ở việc: đối với cùng một loại hành vi vô ý làm chết người cũng có nhiều mức độ nguy hiểm khác nhau cần thiết phải tiếp tục phân hóa theo từng khoản một để có thể đưa ra khung hình phạt phù hợp.
Bên cạnh việc phân hóa hành vi nguy hiểm cho xã hội của các loại hành vi khác nhau thành các cấu thành tội phạm độc lập, mỗi cấu thành tội phạm cũng cần phải phản ánh đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Xem xét phân tách cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng góp phần phân hóa trách nhiệm hình sự của từng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi vô ý làm chết người trong mỗi trường hợp khác nhau là khác nhau. Nhưng để đảm bảo yêu cầu của phân hóa trách nhiệm hình sự, việc cụ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể hóa trách nhiệm hình sự theo tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là rất cần thiết.
Trường hợp vô ý làm chết một người và vô ý làm chết nhiều người tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có sự khác biệt lớn. Chia tách theo từng mức độ như vậy là cơ sở để chúng ta đưa ra mức chế tài phù hợp. Sự phân hóa trách nhiệm hình sự càng triệt để bao nhiêu thì sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi bấy nhiêu cho công tác cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử. Từ những đòi hỏi nêu trên, Bộ luật Hình sự năm 1999 tách hành vi vô ý làm chết người quy định thành một tội độc lập với hai cấu thành tội phạm (cấu thành cơ bản tại khoản 1 và cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 98) là thật sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng được đòi hỏi của lý luận và thực tiễn.
KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI 1.