MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội khiến báo chí đang phải chịu sức ép rất lớn và buộc phải tham gia vào cuộc cạnh tranh khốc liệt về thông tin. Cách mạng công nghiệp 4.0 vừa là cơ hội vừa là thách thức với báo chí Việt Nam. Dé khang định vị thế của mình, báo chí Việt Nam phải tận dụng được cơ hội và có giải pháp giải quyết những vấn đề đặt ra, nâng cao năng lực cạnh tranh dé phat trién.
Có thé nói, cuộc CMCN 4.0 đã làm thay đổi toàn bộ các hoạt động kinh tế, xã hội của loài người, đặc biệt là các sản phâm mang tính công nghệ cao như Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, công nghệ rô bốt, các hệ thong tich hop, nha máy thông minh, giao thông thông minh, phân tích dữ liệu lớn va giáo duc thông minh, thực tế ảo, thực tế ảo tăng cường, mô phỏng. Không nằm ngoài quy luật đó, CMCN 4.0 buộc các cơ quan báo chí - với tư cách là nhà sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông phải thay đổi chiến lược sản phẩm, tương thích với nhu cầu và phương thức tiếp cận, thị hiếu tiêu dùng sản phẩm báo chí truyền thông của công chúng. Yêu cầu đổi mới là căn bản và toàn diện, từ mô hình tổ chức toà soạn, quy trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, kiến thức và kỹ năng quản lý báo chí, chuyên môn của người làm báo, cho đến việc hoàn thiện môi trường pháp lý, công tác nghiên cứu công chúng báo chí trong xã hội thông tin và môi trường số hiện nay. Báo Đại biểu Nhân dân là cơ quan ngôn luận của hệ thống cơ quan dân cử, với tôn chỉ, mục đích: Tuyên truyền, phố biến đường lối, chủ trương của Dang, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trọng tâm là các hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Lãnh đạo Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và hoạt động của các Doan đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; phô biến, hướng dẫn thực thi pháp luật trong cuộc sông, các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; phan anh tâm tư, nguyện vọng của cử tri; định hướng dư luận xã hội; dau tranh, phê phan các tư tưởng sai trái, thù dich; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; giới thiệu có chọn lọc kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của nghị viện các nước trên thế giới; phổ biến, hướng dẫn thực thi pháp luật trong cuộc sống: tuyên truyền tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan dân cử; tuyên truyền, động viên, cô vũ những tập thé, điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước; định hướng đúng dư luận xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, nâng cao quyền làm chủ đất nước của Nhân dân.
Với 35 năm xây dựng, phát triển, báo Đại biểu Nhân dân luôn bám sát tôn chỉ, mục đích hoạt động, trong đó, đặc biệt chú trọng nhiệm vụ thông tin hoạt động của hệ thống cơ quan dân cử. Với hai loại hình báo in va báo điện tử, báo Đại biểu Nhân dân đã xây dựng nhiều chuyên trang, chuyên mục, các tuyến bài viết đặc sắc về hoạt động của HĐND các cấp được Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Lãnh đạo các địa phương cùng nhiều chuyên gia, bạn đọc đánh giá cao. Đặc biệt, những năm gần đây, báo điện tử Đại biéu Nhân dân có nhiều đổi mới mạnh mẽ. Theo đó, các bài viết về hoạt động HĐND các cấp được trình bay bằng nhiều thé loại báo chí khác nhau: phóng sự, phản ánh, phỏng van, infographic, e-magazine, video,.
Do đó, thông tin về hoạt động HĐND các cấp không chỉ đa dạng về số lượng, mà chất lượng ngày càng được nâng cao. Thực tiễn cho thấy, mảng đề tài về hoạt động HĐND các cấp đang dần được nhiều cơ quan bao chí quan tâm nhưng chưa thực sự chú trọng. Da SỐ, thông tin về hoạt động HĐND xuất hiện trên các báo Đảng địa phương với số lượng ít và cách thức thể hiện đơn giản, ít hấp dẫn, ít thông tin chiều sâu, chủ yếu tập trung vào thời gian diễn ra kỳ họp thường kỳ HĐND. Đối với báo Đại biểu Nhân dân, đề tài về hoạt động HĐND các cấp được coi là thế mạnh, “linh hồn của tờ báo”.
Dé có những số báo với những thông tin về hoạt động HĐND 2 bao dam các yêu tố: đúng chủ trương, đường lối của Dang, Nhà nước; chính xác về mặt thông tin, cách thể hiện mềm mại, gần gũi, dễ tiếp nhận; đa dạng về thể loại, bảo đảm tính chất vùng miền,. thì việc tổ chức nội dung từng số báo, trang báo; bài báo ở báo Đại biéu Nhân dân được thực hiện theo những quy trình nghiêm ngặt. Tuy nhiên, việc t6 chức sản xuất ở báo Đại biểu Nhân dân vẫn còn những khó khăn, hạn chế cả về nhân lực, vật lực, các điều kiện khách quan và chủ quan,. cần có giải pháp để khắc phục, nhằm hướng tới mục tiêu ngày càng làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của một kênh thông tin quan trọng của hệ thống cơ quan dân cử.
Trước thực tế đó, báo Đại biểu Nhân dân cần đổi mới va nâng cao chất lượng, thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông. Đặc biệt, cần đổi mới công tác quan trị sản xuất tại báo Đại biểu Nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh chuyền đổi số. Từ thực trạng trên có thé thay viéc đôi mới tổ chức sản xuất nội dung thông tin nói chung và nội dung về hoạt động của HĐND cấp tỉnh, thành phố nói riêng trong bối cảnh chuyền đổi số nhằm phát triển báo Đại biểu Nhân dân trở thành tờ báo hiện đại, hoạt động theo mô hình Tòa soạn hội tụ, đa phương tiện là cấp thiết, phù hợp với Chiến lược phát triển Ngành KTNN và xu hướng vận động của báo chí, truyền thông, của xã hội trong thời gian tới. Với tat cả những lý do trên, va từ sự gợi ý của giảng viên hướng dan, bằng tất cả tâm huyết của một nhà báo làm việc tại cơ quan ngôn luận của hệ thống cơ quan dân cử, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “T6 chức sản xuất nội dung về hoạt động của Hội dong nhân dân cấp tỉnh, thành pho trên báo Đại biểu Nhân dân” làm Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Tổ chức sản xuất nội dung thông tin tại một tòa soạn báo chí đóng vai trò quan trọng đôi với sự phát triên của một tòa soạn báo. Tuy nhiên, qua tim hiéu, tác giả luận văn nhận thấy hiện nay còn ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này một cách đầy đủ và toàn diện. Và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về tổ chức sản xuất nội dung về hoạt động của HĐND cấp tỉnh, thành phố trên báo Đại biểu Nhân dân. Trước đó chỉ có các công trình nghiên cứu về HĐND và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí.
Cụ thé như: - Các công trình nghiên cứu về Hội dong nhân dân Trong cuốn “Hồ Chí Minh với Quốc hội và Hội đồng nhân dân”, Nxb Chính trị Quốc gia (2001). Cuốn sách tập hợp các bài phát biêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Quốc hội và HĐND, hai bản Hiến pháp 1946, 1959 và các sắc lệnh, sắc luật liên quan đến bầu cử, tô chức và hoạt động của Quốc hội và HĐND được Người ký ban hành từ năm 1945 đến 1969. Về Bầu cử nói chung và bầu cử HĐND nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Bau cử Quốc hội và HĐND là một cuộc vận động chính trị quan trọng, nhằm phát huy vai trò làm chủ thật sự của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Do ý nghĩa thực tiễn trọng đại đó, các cuộc vận động tổ chức bầu cử phải được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta [31].
Tác giả Nguyễn Dang Dung có cuốn “Hội đông nhân dân trong nhà nước pháp quyên”, Nxb Tư pháp (2012). Với 354 trang, nội dung sách phân tích sâu sắc các yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương, tác giả còn đi sâu vào cách thức, kỹ năng hoạt động của HĐND cùng các ban của Hội đồng, và nhất là của các đại biểu HĐND, một trong những khía cạnh ít được đề cập trong các ấn phẩm đã được công bồ hiện nay [5]. Cuốn “Mot số vấn dé lý luận và thực tiễn về hoạt động của Hội đồng Nhân dân cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, của nhóm tác giả Lưu Trọng Thành — Nguyễn Thi Thanh Nhàn — Đỗ Phương Anh (Đồng chủ biên) (2017). Cuốn sách bao gồm ba chương, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của Hội đồng Nhân dân nói chung, đi sâu phân tích thực trạng và hạn chế của Hội đồng Nhân dân cấp xã tại tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới phương thức hoạt động nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế dé nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Nhân dân cấp xã [50]. Cuốn “Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (hiện hành)”, Chính trị Quốc gia (2019). Cuốn sách gồm có 5 chương, 91 điều, quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; quyên, trách nhiệm bảo đảm hoạt động giám sát của các chủ thé giám sát, của các cơ quan, tô chức và cá nhân chịu sự giám sát [47]. Ngoài ra còn có nhiều luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây đã lựa chọn vấn đề HĐND làm đề tài nghiên cứu, như: Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật “Chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh theo yêu cầu của nhà nước pháp quyên Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Nguyễn Nam Hà (2011) tại Học viện Hành chính Quốc gia.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chất lượng hoạt động của HĐND, luận án đánh giá thực trạng hoạt động của HĐND cấp tỉnh từ năm 1999 đến nay; từ đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh hiện nay theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam [19].