Chương 1: Ngô Quyền và sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NGÔ QUYỀN VÀ SỰ HÌNH THÀNH TÍN NGƢỠNG THỜ NGÔ QUYỀN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Ngô Quyền và vị trí, vai trò với vùng đất Hải Phòng 1. Thân thế của Ngô Quyền Ngô Quyền người làng Đường Lâm (xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội [12, tr.203], ông sinh ra trong gia đình quý tộc có truyền thống yêu nước chống giặc, tương truyền, ông tổ bốn đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân, người từng chiêu mộ hàng trăm thủ hạ theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp của Lý Bí chống quân Lương [33, tr. Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm châu mục châu Đường Lâm.
Ngô Quyền sinh năm 898. Theo sử cũ mô tả, ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là người trí dũng song toàn, “khi Vua mới sinh có ánh sang lạ đầy nhà, trang mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Đến khi lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động: đầu thế kỉ thứ X (SCN), nhà Đường (618 – 907) rơi vào giai đoạn suy thoái trầm trọng, nhân cơ hội đó, năm 905, hào trưởng người Việt ở Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ cho người Việt, xưng là Tiết độ sứ, đặt nền móng cho thời kỳ độc lập, tự chủ.
Năm 907, Khúc Thừa Dụ qua đời, con ông là Khúc Hạo nối nghiệp, và sau đó là Khúc Thừa Mỹ cũng tự xưng là Tiết độ sứ, tiếp tục công cuộc xây dựng nền tự chủ. Công cuộc xây dựng nền tự chủ thì đến năm 930, Vua Nam Hán là Lưu Cung sai quân sang chiếm Giao Châu, Khúc Thừa Mỹ thua, bị bắt đem về Quảng Châu. Với vận nước đang lên, Ngô Quyền đã tiếp nối chí khí của cha ông, đứng ra tập hợp lực lượng và dần dần có thế lực lớn ở vùng Đường Lâm [33, tr. Năm 931, Ngô Quyền làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ (Tiết độ sứ người Việt), được Dương Đình Nghệ gả con gái và cho quyền quản Ái Châu [12, tr.
Ngô Quyền trưởng thành trong những năm đất nước vươn lên mạnh mẽ, khẳng định quyền tự chủ, kiên quyết giành và giữ độc lập dân tộc. Ông sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất và trở thành một vị tướng nổi tiếng được nhân dân kính mến, quân sĩ khâm phục. Tài năng và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com danh tiếng của Ngô Quyền không chỉ lẫy lừng khắp nước, mà cả đến triều đình Nam Hán cũng phải thừa nhận ông là “người kiệt hiệt” không thể coi thường [33, tr. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 Năm 937, Dương Đình Nghệ bị một nha tướng là Kiều Công Tiễn giết để thay chức.
Cuối năm đó, Ngô Quyền đem quân từ Ái Châu đánh Công Tiễn. Công Tiễn cầu cứu vua Nam Hán, nhân cơ hội đó, vua Nam Hán là Lưu Cung phong cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Vương, đem quân sang cứu Công Tiễn [12, tr. Được tin quân Nam Hán chuẩn bị kéo quân sang xâm lược, Ngô Quyền tổ chức kế hoạch kháng chiến. Việc đầu tiên là tiêu diệt nội phản bên trong, Ngô Quyền đem quân vây thành Đại La, bắt được Kiều Công Tiễn và giết đi.
Dự đoán đường tiến quân của quân Nam Hán sẽ phải đi vào cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền bảo với các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hang cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát” [12, tr.
Hải Phòng ở đầu thế kỉ thứ X là một vùng đất thuộc tỉnh Hải Dương, là nơi có liên quan trực tiếp đến trận chiến Bạch Đằng năm 938. Hải Phòng là môt vùng đất hình thành tương đối muộn, địa hình Hải Phòng có lịch sử hình thành khá đặc biệt, đó là sự kết hợp giữa đồi núi, đồng bằng, biển và lục địa. Hệ thống núi là kết quả của thời kỳ tạo núi cách ngày nay khoảng 200 triệu năm tạo nên dãy núi đá xen kẽ với núi đồi đất chạy dọc ra biển như núi Tràng Kênh (huyện Thủy Nguyên) chạy song song trên sông Bạch Đằng, dãy núi đảo Cát Bà, núi Voi (huyện Kiến An). Hệ thống núi xen kẽ trùng điệp tạo ra những bức tường phòng thủ, bảo vệ tổ quốc.
Ở khu vực nội thành Hải Phòng mang đặc trưng của địa hình đồng bằng thấp ven biển với lịch sử kiến tạo gắn liền với hoạt động tích tụ của các dòng sông và quá trình khai phá của con người với tốc độ lấn biển ở vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ đạt 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng 100m/năm, vùng đồng bằng Hải Phòng là sản phẩm trực tiếp của quá trình bồi đắp phù sa từ hệ thống sông Thái Bình mà trực tiếp là các con sông nhánh cấp 2, cấp 3 của nó như sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray… Hoạt động của biển (tiến và thoái) cùng với sự bồi đắp của các dòng sông đóng vai trò quyết định trong việc hình thành vùng đồng bằng thấp ven biển của Hải Phòng bao gồm cả phần nội thành thành phố Hải Phòng [36, tr. Hải Phòng có hệ thống sông ngòi lớn chia ra làm ba loại là hệ thống sông chính, hệ thống sông nhánh và hệ thống kênh rạch, hồ ao. Các sông chính của Hải Phòng là nhánh cấp 1, cấp 2 của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình với hướng chảy chủ yếu là Tây Bắc - Đông Nam gồm có sông Bạch Đằng, sông, Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình và sông Luộc. Hệ thống sông nhánh gồm sông Hóa, sông Mới, sông Mía, sông Tam Bạc cùng với hệ kênh rạch hồ ao góp phần tạo thành vùng đất Hải Phòng.
Mạng lưới sông ngòi chằng chịt tạo lên liên kết thống nhất không chỉ mang giá trị kinh tế: cung cấp phù sa cho nông nghiệp, cung cấp hải sản, cho phép thuyền bè đi lại thông thương trong vùng một cách thuận tiện… mà còn mang giá trị quốc phòng quan trọng: những trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng gắn liền với những vị anh hùng Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo. Trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử hình thành vùng đất Hải Phòng, các nhà khảo cổ học đã chứng minh được sự tồn tại và phát triển ở nơi đây một cuộc sống phong phú của cư dân Việt cổ-như những chủ nhân đầu tiên của vùng đất này. Trên đất Hải Phòng, các nhà khảo cổ học đã phát hiện bốn di chỉ tiêu biểu xuyên suốt thời kỳ tiền sử, minh chứng cho sự có mặt liên tục của người Việt cổ là di chỉ Cái Bèo (huyện Cát Hải) thuộc văn hóa tiền Hạ Long, di chỉ Tràng Kênh (huyện Thủy Nguyên) thuộc văn hóa Phùng Nguyên, di chỉ Việt Khê (huyện Thủy Nguyên) và di chỉ núi Voi (huyện An Lão) thuộc văn hóa Đông Sơn. Sang thời kỳ Bắc thuộc, Hải Phòng ngày nay thuộc đất của châu Giao Chỉ, nằm ở khoảng giữa của sông Hồng và sông Thái Bình mà học giả Đào Duy Anh đã lý giải vùng đất đó ở miền Hải Dương [2, tr.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, ở vùng nội thành Hải Phòng có thể đã xuất hiện hai làng cổ là Gia Viên và An Biên. Làng Gia Viên có tên nôm là làng Cấm do nằm ven sông Cấm, ở vị trí trung tâm của thành phố Hải Phòng hiện nay, các tác giả 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Ngọc và Đặng Thị Vân Chi đã khẳng định đây là làng gốc của thành phố Hải Phòng. Làng An Biên cũng được coi là cái nôi của thành phố gắn liền với sự tích nữ tướng Lê Chân. Theo truyền thuyết, bà Lê Chân là người làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Bà đã cùng một số dân làng đến vùng đất ven biển này khai hoang lập ấp, lấy tên làng mới theo tên xưa gọi là trang An Biên. Trong tâm thức một số người dân Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân được coi là người khai thiên lập địa, đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng [31, tr. Trong thời kỳ phong kiến, Hải Phòng gắn liền với những chiến thắng quân sự oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938, năm 981 và năm 1288 với những người dân khí phách, trọng dũng, trọng nghĩa. Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, Hải Phòng trở thành nhượng địa của Pháp, thời kỳ này chứng kiến những thay đổi lớn từ diên cách hành chính, quy mô dân số, kinh tế, văn hóa… tác động đến sự phát triển của thành phố sau này.
Trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã nhận được sự trợ giúp, tham gia đắc lực của nhân dân địa phương. Theo thần tích đền Gia Viên (Hải Phòng): ở Kinh Môn có nhiều người đã hăng hái theo giúp Ngô Quyền trong đó nhân dân huyện An Dương đã theo giúp đông nhất [33, tr. Tại làng Gia Viên có hàng chục thanh niên tình nguyện tham gia chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Đào Nhuận, ở Lâm Động (Thủy Nguyên) có chàng trai họ Nguyễn khi nghe tin quân Nam Hán sang xâm lược đã cũng nhân dân địa phương đến quân doanh của Ngô Quyền xin được tham gia chiến đấu; ở Hoàng Động (Thủy Nguyên) có ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả; ở xã Đằng Giang (An Hải) có ông tổ của dòng họ Phạm, theo truyền thuyết của dòng họ cũng đã sớm theo Ngô Quyền về đây đánh trận [33, tr. Hoạt động chuẩn bị cho trận chiến của Ngô Quyền không được ghi chép cụ thể trong chính sử nhưng qua thần tích của các làng xã phụng thờ ông ở Hải Phòng cho chúng ta biết được một phần: trong thời gian chuẩn bị chiến trường, Ngô Quyền và bộ chỉ huy đóng đại bản doanh tại thôn Lương Xâm (xã Nam Hải, quận Hải An) [33, tr.