Chương 1 TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN 1. Đôi nét về tình hình chính trị, văn hoá, xã hội thời Tây Sơn Bối cảnh lịch sử nước ta nửa cuối thế kỷ XVIII hết sức rối ren; đất nước bị chia cắt Ðàng trong - Ðàng ngoài trên hai thế kỷ đã để lại những hậu quả nặng nề, nạn ngoại xâm luôn đe dọa. Ở Ðàng ngoài, vua Lê hoàn toàn bất lực, chính trị thối nát, nhân dân cơ cực; chúa Trịnh chuyên quyền. Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn cũng không tốt hơn.
Phong trào nông dân Tây Sơn nổi dậy năm 1771 đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, đánh dẹp các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Đó là đánh tan quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785; quét sạch quân Trịnh ra khỏi Phú Xuân năm 1786 và đặc biệt đại thắng mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789) đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi, thống nhất đất nước. Trong những năm sau đó (1789-1802), Phú Xuân là kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất thời Tây Sơn. Tại đây, trong thời gian vua Quang Trung nắm quyền đã ban bố và chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách quan trọng về nội trị và ngoại giao nhằm xây dựng và phát triển, mang lại diện mạo mới cho đất nước.
Về mặt nội trị, ông đã đề ra nhiều chính sách cải cách có tính chất tân thời, nhằm phát triển đất nước theo một xu hướng mới, không quá lệ thuộc vào những lễ giáo phong kiến, như đưa chữ Nôm sử dụng trong các văn bản hành chính của nhà nước; sắp xếp lại tổ chức hành chính từ trung ương đến địa phương; ở địa phương chú trọng nhiều đến các đơn vị huyện và xã, định 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn chế lại chính sách về thuế cũng như tuyển lính, đặc biệt là chính sách ruộng đất rất được coi trọng, như ban bố chiếu khuyến nông nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, đồng thời ra lệnh bãi bỏ nhiều thứ thuế công thương nghiệp nặng nề trước đây, mở rộng việc buôn bán làm ăn cho thương nhân và thợ thủ công, quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở mang. Theo Tây Sơn lược thuật “Nhà Tây Sơn từ năm Canh Tuất tới lúc này, hàng năm được mùa, khắp chốn yên vui, thanh bình.” Về mặt ngoại giao, đặc biệt là đối với phương Bắc, ông rất khôn khéo trong cách ứng xử mặc dù đã “đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn”. Nhưng sau chiến thắng, Nguyễn Huệ vẫn chủ động cầu hòa, bề ngoài xin thần thuộc để dập tắt ý đồ phục thù của nhà Thanh và buộc họ phải chính thức công nhận Quang Trung làm "quốc vương", từ bỏ dã tâm thu nạp bọn lưu vong phản quốc, lấy cớ xâm lược nước ta một lần nữa. Quang Trung cũng ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, ban bố Chiếu lập học, khuyến khích các xã mở trường dạy học.
Quang Trung ban hành Chiếu học tập bắt các xã phải mở lớp học cho dân và ngay từ năm 1789 Quang Trung đã mở kì thi Hương đầu tiên ở Nghệ An. Tiếng nói dân tộc được coi trọng. Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia. Lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm.
Các văn kiện của nhà nước dần dần viết bằng chữ Nôm. Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại bia Tiến sĩ ở Văn Miếu, Quang Trung tự tay phê vào lá đơn như sau: Nay mai dựng lại nước nhà, Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian. Thời kì này, do chiến tranh kéo dài, đặc biệt là tình hình nội chiến trong suốt thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh để lại, hơn thế nữa, thời gian vua Quang 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn Trung trị vì quá ngắn, nên rất nhiều những dự định còn ấp ủ vẫn chưa thực hiện được. Đó là những thiệt thòi lớn để lại cho nhân dân, cho đất nước.
Thứ nữa, vua Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi khi mới 10 tuổi, xã hội đã có nhiều biến chuyển và có sự rạn nứt trong nội bộ triều đình. Ở Đàng trong, Nguyễn Ánh ngày một mạnh, nội bộ giữa các quyền thần trong triều bất hoà và đây cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của Vương triều Tây Sơn. Như trên chúng tôi đã trình bày, lịch sử triều Tây Sơn quá ngắn so với những triều đại khác (Triều Lý, Triều Trần, Triều Lê), cộng với chiến tranh xảy ra liên miên, chính trị xã hội ít được ổn định, nhưng thời kì này vẫn sản sinh ra một số nhà văn hoá có tiếng. Đặc biệt, phải kể đến như: Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Thiếp, Ngô Thế Lân v.
Hầu hết, họ đều là những cựu thần của triều đình Lê - Trịnh, nhưng khi Tây Sơn dành chính quyền họ đã ý thức được thời cuộc, tham gia công cuộc xây dựng, duy trì ổn định đất nước và giữ những trọng trách trong triều đình. Không những thế họ còn là những nhà thơ, nhà văn, nhà ngoại giao khá nổi tiếng. Có thể thấy, hầu hết những tác phẩm có tính chất lịch sử của thời Tây Sơn như: Hịch Tây Sơn, Chiếu lên ngôi, Chiếu hiểu dụ các quan văn võ cựu triều, Hịch truyền quan lại quân dân các phủ Quảng Ngãi Qui Nhơn v. đều do Ngô Thì Nhậm thảo ra.
Nó không những là văn kiện có tính chất lịch sử mà còn là những văn kiện đối nội, đối ngoại, đồng thời còn là những tác phẩm chính luận rất có giá trị. Thời Tây Sơn, mặc dù những tác gia, tác phẩm không nhiều, nhưng đã để lại những dấu ấn khá đậm nét. Bằng chứng là những trước tác văn thơ tiêu biểu của các tác giả như: - Ninh Tốn với Chuyết Sơn Thi Tập 拙山詩集 phần lớn đều được ra đời trước Tây Sơn, thời Tây Sơn ông cũng có sáng tác nhưng không nhiều; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn - Ngô Thế Lân với Phong trúc tập 風竹集 được viết bằng chữ Hán, nhưng hiện đã thất truyền, ông chỉ còn lại một số tác phẩm trong Nam hành kí đắc tập 南行記得集 của Phạm Nguyễn Du, Phủ biên tạp lục 府編雜綠 của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí 歷朝憲章類志 của Phan Huy Chú. - Ngô Thì Nhậm với khá nhiều trước tác, ông có đến 7 tập thơ và 5 tập văn xuôi, văn khảo cứu, trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như: Bang giao hảo thoại 邦交好話, Hàn các anh hoa 翰閣英華, Hoàng hoa đồ phả 皇華圖譜, Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh 竹林宗旨元聲 v.
Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của văn học Tây Sơn. - Phan Huy Ích (1751-1822) với Dụ am ngâm lục 裕庵吟錄 và Dụ am văn tập 裕庵文集, ông là người dịch Chinh phụ ngâm 征婦吟 của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm; Đoàn Nguyễn Tuấn với Hải ông thi tập 海翁詩集 chủ yếu được sáng tác trong lần đi sứ ở Trung Quốc; - Ngô gia văn phái với Hoàng Lê nhất thống chí 皇黎一統志 ghi lại sự thật lịch sử nước ta khoảng 30 năm cuối thế kỉ XVIII. - Ngoài ra còn có một số tác gia nữa như Lê Ngọc Hân với Ai tư vãn 哀思晚, văn tế Quang Trung bằng chữ Nôm; Nguyễn Huy Lượng với Tụng Tây Hồ chí 訟西湖誌, Cung oán thi 宮怨詩, Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương với Đề đền Sầm Nghi Đống, Sư hổ mang, Tranh Tố nữ v. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn 1.
Tổng quan về văn bia Hậu thời Tây Sơn 1. Điểm qua về văn bia thời Tây Sơn Sau khi nhà Tây Sơn lên nắm chính quyền, song song với việc xây dựng một nhà nước độc lập tự chủ, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội từng bước đi vào ổn định từ trung ương đến địa phương. Do vậy, các hoạt động văn hóa tín ngưỡng nơi làng xã cũng được đề cao và văn bia chính là sản phẩm của những hoạt động đó. Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, trong tổng 22.980 đơn vị thác bản văn bia được Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) tại Hà Nội in rập từ những năm đầu thế kỉ XX hiện vẫn được lưu giữ tại kho thác bản văn bia của Thư viện - Viện nghiên cứu Hán Nôm, thì văn bia thời Tây Sơn chiếm 352 văn bia, được phân bố rải rác ở 21 tỉnh, thành trong cả nước từ Lạng Sơn đến Nghệ An.
Hệ thống văn bia thời Tây Sơn cũng rất phong phú và đa dạng, với nhiều loại khác nhau như bia gắn liền với các di tích như: chùa, đình, miếu, văn chỉ, từ đường, lăng mộ; bia gắn với những ghi chép về xây dựng quê hương đất nước như: cầu cống, đường xá, thủy lợi, ruộng đất; bia gắn với việc ghi chép phong tục tập quán, khuyến học như: hương ước, đề danh v.v… Trong đó phần lớn là bia đình và bia chùa, đó là những văn bia chủ yếu mang nội dung lập Hậu của các dạng khác nhau như: Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền, Hậu giáp, Hậu ngõ, Hậu kị, Hậu phối v.v… Văn bia thời Tây Sơn không có những quy phạm chặt chẽ như bia thời Lê hay những thời kì trước. Lệ dựng khắc bia có phần tự do, phóng khoáng hơn, kích cỡ văn bia nhỏ hơn và hoa văn trang trí trên văn bia cũng đơn giản hơn, bố cục của một bài văn bia cũng thường bị lược bớt như tên người soạn, người viết, thợ khắc đá và đây cũng chính là đặc trưng của văn bia Tây Sơn. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn 1. Văn bia Hậu thời Tây Sơn Trong toàn bộ di sản văn bia, có một dạng bia đặc biệt nhưng lại rất phổ biến, đó là bia Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền v.
lâu nay vẫn được gọi chung là bia Hậu. Đây là dạng bia có tỷ lệ khá lớn, chiếm đến gần 50% số thác bản văn bia hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. 54] Có thể nhận thấy rằng bia Hậu ra đời là sản phẩm của toàn bộ hệ thống tư tưởng văn hóa tín ngưỡng của các vùng nông thôn mà cụ thể là sản phẩm của tập tục lập Hậu ở Việt Nam. Những người được lập Hậu được gọi là Hậu thần, Hậu phật, v.
do đó, bia Hậu thường mang tên Hậu thần bi kí, Hậu phật bi kí, Hậu hiền bi kí v.v… Những thuật ngữ Hậu thần, Hậu phật v.