Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY 1. Nhận thức chung về ma túy và công tác phòng, chống ma túy 1. Nhận thức chung về ma túy 1. Khái niệm ma túy Ma túy là hiể m ho ̣a của nhân loa ̣i , là mô ̣t vấ n na ̣n trên toàn thế giới.
Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con ngƣời , mà còn là nguyên nhân dẫn đế n phạm tội và gây mất trật tự , an toàn xã hô ̣i , làm cho sự lây nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ lan truyền rất rộng. Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma túy” hay “chất ma túy”. Ma túy là t ừ Hán Việt, trong đó “ma” đƣợc hiểu là tê mê và “túy” là say sƣa. Theo đó, ma túy là chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, tê liệt, dùng quen thành nghiện, hay nói cách khác, ma túy là chất gây nghiện.
Theo từ điển tiếng Việt, ma túy là tên gọi chung của những chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện; ma túy là những chất mà ngƣời dùng nó một thời gian sẽ gây nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào nó. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “ma túy” là các chất khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng. Đến năm 1982, WHO đã phát triển định nghĩa “ma tuý” theo nghĩa rộng, là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái đƣợc đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thƣờng, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật. Liên Hợp Quốc cũng đã đƣa ra định nghĩa “ma túy” là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của ngƣời sử dụng.
Tuy nhiên, các định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới hay của Liên Hợp Quốc đều mang tính khái quát, bao hàm tất cả các chất làm biến đổi về mặt tâm sinh lý của con ngƣời. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công ƣớc thống nhất về các chất ma túy năm 1961 (gọi tắt là Công ƣớc 1961) không đƣa ra khái niệm “chất ma túy” mà thay vào đó áp dụng phƣơng pháp liệt kê để xác định trực tiếp danh mục các chất ma túy bị kiểm soát. Kỹ thuật lập pháp này đƣợc sử dụng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các điều ƣớc quốc tế về kiểm soát ma túy trƣớc đó, đặc biệt là Công ƣớc về hạn chế việc sản xuất, phân phối chất ma túy năm 1931 (gọi tắt là Công ƣớc 1931). Trong quá trình dự thảo Công ƣớc 1931, một nhóm các chuyên gia quốc tế đƣợc yêu cầu đề xuất khái niệm “chất ma túy” để sử dụng trong Công ƣớc.
Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu các chuyên gia đã kết luận rằng không thể đƣa ra một khái niệm chung về “chất ma túy” mà chỉ có thể đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau để mô tả các chất đƣợc Công ƣớc 1931 kiểm soát bởi vì Công ƣớc này điều chỉnh nhiều loại chất với những thuộc tính khoa học khác nhau. Ví dụ: có những chất thuộc nhóm “narcotic” có tính gây nghiện cao và không đƣợc sử dụng trong y khoa, có những chất cũng thuộc nhóm “narcotic” có tính gây nghiện cao nhƣng lại đƣợc sử dụng trong y khoa, cũng có những chất vừa không thuộc nhóm “narcotic” vừa không có tính gây nghiện nhƣng có thể biến đổi thành “narcotic” gây nghiện. Chính vì vậy, để tránh những khó khăn mà các nhà chuyên môn đã nêu, các nhà làm luật đã lựa chọn phƣơng pháp liệt kê để chỉ rõ các chất bị kiểm soát. Kế thừa kinh nghiệm của Công ƣớc 1931 và một số điều ƣớc quốc tế khác về kiểm soát ma túy, Công ƣớc 1961 áp dụng phƣơng pháp liệt kê, tuy không nêu đƣợc những thuộc tính cơ bản và chung nhất nhƣng có thể xác định đƣợc các chất ma túy mà công ƣớc điều chỉnh.
Từ đó, đƣa ra một danh mục cụ thể các chất ma túy bị kiểm soát, tạo ra sự thuận tiện trong việc áp dụng trên thực tế. Ở Việt Nam, theo các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, ma túy có thể hiểu là các chất bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tƣơi, heroine, cocaine, các chất ma túy khác ở thể lỏng hay thể rắn. Tiếp đến, Luật PCMT năm 2000 đƣa ra khái niệm về chất ma túy tại khoản 1 Điều 2 nhƣ sau: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [50]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo đó, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật PCMT năm 2000 quy định: “chất gây nghiện” là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với ngƣời sử dụng và “chất hƣớng thần” là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với ngƣời sử dụng.
Nhƣ vậy, ma túy là những chất đã đƣợc khoa học xác định và có tên gọi riêng. Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy đƣợc quy định tại Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 67/2001/NĐ-CP; Nghị định số 133/2003/NĐCP; Nghị định số 82/2013/NĐ-CP). Việc xác định là chất ma túy, tiền chất đƣợc tiến hành qua trƣng cầu giám định. Từ các khái niệm của quốc tế và Việt Nam về ma túy, có thể đƣa ra một khái niệm chung nhƣ sau: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người.
Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng. Phân loại ma túy Ma túy đƣợc phân thành nhiều nhóm dựa trên những căn cứ nhất định phục vụ cho những mục đích khác nhau. Một số cách phân loại cơ bản nhƣ sau: - Căn cứ vào nguồn gốc, ma túy đƣợc chia thành: ma túy tự nhiên, ma túy tổng hợp và ma túy bán tổng hợp: + Ma túy tự nhiên là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên hoặc nuôi trồng và các chế phẩm của chúng. Ví dụ: thuốc phiện và các sản phẩm của cây thuốc phiện nhƣ moocphin, codein, narcotics, coca và các hoạt chất của nó nhƣ cocain, cần sa và các sản phẩm của cây cần sa.; + Ma túy bán tổng hợp là các chất ma túy đƣợc điều chế từ ma túy tự nhiên, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu.
Ví dụ: Heroin là chất ma túy đƣợc tổng hợp từ moocphin.; + Ma túy tổng hợp là các chất ma túy đã đƣợc điều chế bằng phƣơng pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ hóa chất (đƣợc gọi là tiền chất). Điển hình là các amphetamine. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Căn cứ theo tác dụng, ma túy đƣợc chia thành ba nhóm chính là kích thích, ức chế thần kinh và gây ảo giác: + Chất kích thích: Thuốc kích thích là thuốc có tác dụng làm tăng nhanh hoạt động của hệ thống thần kinh và nhiều bộ phận trong cơ thể, bao gồm: Ni-cô-tin (nicotine) trong thuốc lá; Cà-phê-in (caffeine) trong trà, cà phê, các loại nƣớc tăng lực (energy drinks), sô-cô-la (chocolate), nƣớc cô-ca cô-la (coke); Am-phê-ta-min và những loại thuốc cùng họ hoặc có công thức hoá học rất gần nhƣ: Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxymethamphetamine (MDMA), Methylpheniate. Cô-ken – Cocaine; + Chất ức chế: Ức chế là ngăn cản hoặc làm suy giảm hoạt động.
Thuốc ức chế thần kinh có tác dụng làm suy giảm, làm chậm lại hoạt động của hệ thống thần kinh. Một số loại thuốc ức chế thần kinh có tác dụng gây nghiện: Thuốc có tác dụng an thần, gây ngủ: Rƣợu (ethanol): Bia, rƣợu chát, rƣợu mạnh., Benzodiazepines là những thứ thuốc an thần loại nhẹ hoặc thuốc ngủ; Thuốc giảm đau thuộc nhóm á phiện: Thuốc phiện (opium), morphine, pethidine, codein, bạch phiến (heroin), methadone, buprenorphine.; Cần sa ở liều lƣợng nhẹ; Những ma túy dạng bốc hơi hoặc dạng hít: Xăng, thuốc chùi sơn, keo, dung dịch pha loãng sơn (paint thinner). + Chất gây ảo giác: Thuốc gây ảo giác có tác dụng tạo ra ảo giác nhƣ thấy hoặc nghe những điều không có thực, thấy thời gian và không gian thay đổi, thấy sự vật chung quanh di chuyển hoặc thấy sự vật có màu sắc đậm hơn hay khác hơn bình thƣờng. Các loại thuốc gây ảo giác gồm có: LSD (lysergic acid diethylamide); DMT (dimethyltryptamine); Psilocybin (magic mushroom); Mescaline (peyote cactus); DOM hay STP (chất tổng hợp từ Mescaline); MDMA (ecstasy, thuốc lắc) ở liều lƣợng mạnh; Phencyclidine or PCP (angel dust); Ketamine; Cần sa ở liều lƣợng mạnh (marijuana, hash, hash oil).
- Căn cứ tính hợp pháp, ma túy chia làm hai nhóm: hợp pháp, bất hợp pháp: + Ma túy hợp pháp: Những loại thông dụng nhƣ Rƣợu, bia; Ni-cô-tin (thuốc lá); Ca-phê-in; Thuốc bác sĩ cho toa nhƣ thuốc ngủ an thần (sedative- 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hypnotics) gồm có: Benzodiazepines nhƣ Serepax, Valium, Librium. Một số dƣợc phẩm trong nhóm amphetamies nhƣ dexamphetamine, methylphenidate, phentermine. Tuy nhiên, có một vài giới hạn đối với một số loại ma túy hợp pháp. Vƣợt qua những giới hạn này, ma túy có thể trở thành bất hợp pháp, ví dụ nhƣ ngƣời dƣới 18 tuổi mua rƣợu bia hay thuốc lá là bất hợp pháp, những loại thuốc trị bệnh có thể trở thành bất hợp pháp nếu mua không có toa bác sĩ.
+ Ma túy bất hợp pháp: Cần sa (Cannabis); Bạch phiến (Heroin); Các loại gây ảo giác (Hallucinogens/Psychedelics): LSD, DMT, Psilocybin, Psilocin, Mescaline, DOM (STP), Phencyclidine or PCP, Ketamine. Cô-ken (Cocaine); Mê-tha-qua-lôn (Methaqualone) và những loại gây nghiện (narcotics) mua không có toa bác sĩ; Các loại amphetamine bất hợp pháp nhƣ methamphetamine, crystal methamphetamine. - Căn cứ nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các chuyên gia của Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành năm nhóm sau: + Nhóm 1: ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates); + Nhóm 2: ma túy là các chất làm từ cần sa (canabis); + Nhóm 3: ma túy là các chất gây kích thích (sitimulants); + Nhóm 4: ma túy là các chất gây ức chế (depressants); + Nhóm 5: ma túy là các chất gây ảo giác (hallucinorens). Tác hại của ma túy Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật PCMT, tệ nạn ma túy bao gồm tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác liên quan đến ma túy.