phần mở đầu và phần kết luận, luận văn của chúng tôi chia thành ba chương gồm các nội dung sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận tư duy thơ và tư duy thơ của Trần Vạn Giã Chƣơng 2: Cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ Trần Vạn Giã Chƣơng 3: Biểu tượng và ngôn ngữ thơ Trần Vạn Giã 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TƢ DUY THƠ VÀ TƢ DUY THƠ CỦA TRẦN VẠN GIÃ 1.1 Tư duy thơ là một phương thức tư duy nghệ thuật Công trình “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (1996), NXB Văn học Hà Nội; bản in sau “Tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (2012), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Thành được xem là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề về này. Tác giả Nguyễn Bá Thành khẳng định: - Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo. - Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ; tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy ,“Tư duy thơ chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nhà thơ” [32, tr. Do chịu sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định.
Tư duy thơ chính là sự phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại. Tập hợp các sáng tác thơ theo nội dung tư tưởng và đối tượng phản ánh, ta thấy rằng thơ ca là sự phản ánh tinh vi của ý thức hệ có tính giai cấp và có tính lịch sử. Cũng trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Bá Thành đã đưa ra những quan điểm lí luận về tư duy thơ tương đối đầy đủ, cụ thể. - Tư duy thơ có các khả năng; hướng nội, hướng ngoại và sự kết hợp hướng nội với hướng ngoại.
Hướng nội là tác giả nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình. Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ. Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình, tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ. - Tư duy nghệ thuật là tư duy được thể hiện và thực hiện trong quá trình sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật.
Sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật là hình thái đặc trưng cao nhất của hoạt động thẩm mỹ; trong sáng tạo và thụ cảm bao hàm cả đánh giá giá trị. Trong phạm trù tư duy nghệ thuật, bản chất các quy luật hiện thực cuộc sống không 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diễn ra dưới dạng trừu tượng của khái niệm mà biểu hiện qua hệ thống các hình ảnh, hình tượng cụ thể, sinh động. Và sự phản ánh trong tư duy nghệ thuật không được phản ánh trực tiếp mà qua ngôn ngữ của thơ văn, đó là những phát ngôn, những thông điệp được thể hiện gián tiếp qua sự sáng tạo mang tính cá nhân, in đậm dấu ấn của chủ thể. Chính đi từ bản chất của tư duy nghệ thuật mà văn chương không chấp nhận sự sao chép, sự lặp lại; nó nhất định phải có tính khu biệt những cá tính độc đáo.
“Từ điển thuật ngữ văn học” (2006), NXB Giáo dục của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra. Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó. Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức.
Thơ Trần Vạn Giã trước năm 1975 luôn chất chứa nhiều nỗi trăn trở cùng thời đại, ông sống và hòa cùng những nỗi đau. Đó là những ngày tháng nhà thơ phải trải qua nhiều sự day dứt, tâm hồn nhà thơ nhạy cảm hơn bất cứ lúc nào, vì thế thơ khơi gợi về quê hương, tình cảm gia đình đó là những người chị, người mẹ, người anh “trải qua bao lửa đạn vẫn còn trơ trơ”; thơ gợi về quãng thời gian quá khứ và hiện tại; thơ man mác buồn như ngọn cỏ may, gió cuối ngày tháng chạp, dòng sông không chịu nỗi buồn. Đó còn là những hình ảnh đầy hy vọng, lóe lên một niềm tin trong nhà thơ khi xuất hiện những hình ảnh những hòn than rực lửa đêm đêm, khói bếp vẫn bay lên trời, mùi bắp nướng và những dòng sông thân yêu. Đi lên từ những sự nhận thức sâu sắc về thời đại, tư duy nghệ thuật thơ Trần Vạn Giã đạt đến tính dân tộc sâu sắc, những vần thơ lục bát hồn hậu, đó là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc như cơm ăn, áo mặc và hơi thở con người.
Tư duy thơ là sự vận động đi từ chỗ bế tắc, đau thương để tìm về quê hương, gia đình để hòa điệu cùng thơ ca dân tộc. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái quát về tư duy thơ Trần Vạn Giã Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, khắp nơi ở miền Nam dấy lên phong trào đấu tranh vũ trang đòi Mỹ thi hành hiệp định Gionevo, đòi dân sinh, dân chủ. Cuối năm 1959 ngọn lửa “đồng khởi” bùng cháy đã đốt rụi “quốc sách ấp chiến lược” của Mỹ, nhiều nơi nhân dân nổi dậy cướp chính quyền. Bất chấp mọi sự đàn áp dã man của đội quân Mỹ - Ngụy trong thành thị miền Nam, các tầng lớp nhân dân đã đứng lên đòi quyền tự do, tự quyết, đòi giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam.
Những cuộc bãi công của công nhân, bãi thị của bà con tiểu thương, nhiều cuộc đấu tranh xuống đường ngày càng rầm rộ; đặc biệt có những hình thức đấu tranh quyết liệt tác động đến đông đảo quần chúng nhân dân như các cuộc tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức (11/06/1963) tại Sài Gòn, nữ sinh Đặng Thị Ngọc Huyền (23/06/1966) tại Đà Lạt, Nhất Chi Mai (15/05/1967) tại Sài Gòn. Chính sự đấu tranh sôi nổi ấy đã thức tỉnh tinh thần dân tộc trong lớp trẻ ở Sài Gòn, trong đó có nhà thơ Trần Vạn Giã. Ông là đại diện của lớp nhà thơ trẻ, theo con đường chung đó là sự thức tỉnh dân tộc, tuổi trẻ với giác quan nhạy bén đã sớm nhận diện chính xác kẻ thù và xác định được vai trò của mình trong cuộc chiến đấu chung của cả nước. Từ đó mới có những vần thơ còn nóng hổi khí huyết của tuổi thanh xuân được đăng trên các tạp chí Trình Bầy, Đối diện như Bến chờ, Đếm xác hồi hương, Lời tự tình của mẹ, Lòng vẫn thiết tha, Thưa mẹ con về.
Những năm 1955 – 1975, thơ miền Nam mang màu sắc trầm buồn, thương đau. Chính vì thế mà trong những giai đoạn đầu này nhà thơ Trần Vạn Giã đã viết bài thơ “Hồn chữ” năm 1963 thể hiện sự bị quan, lạc lõng của một thế hệ không biết đi về đâu. Tác giả tâm sự ở phần đầu của tập thơ này “Tuổi trẻ tôi bị chiến tranh bắt buộc phải từ bỏ học đường và không còn cách nào hơn, tôi đã ẩn trú một góc rừng bên ngôi chùa cô tịch, sống tạm bợ nơi đây trong nỗi khát khao hòa bình và dằn vặt trong thơ” [17, tr5]. Phần lớn những bài thơ trong giai đoạn này thể hiện sự bi lụy, yếm thế, khinh bạc phù vinh,… Đâu đó trong một số bài thơ có thi vị Thiền của Phật Giáo và âm hưởng Kinh Thánh của Kito Giáo.
Sau đó, do chiến tranh ngày càn ác liệt trên quê hương, thơ ông đã có sự bứt phá vượt bậc để “Đi 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong rừng biểu ngữ”. Đây chính là một chặng đường để lại nhiều dấu ấn trong cuộc đời sáng tác của ông. Đó là một sự chuyển biến mạnh mẽ và có ý thức về tư duy thơ. Từ trong đau thương nhà thơ tìm ra được con đường cho mình, chỉ có đấu tranh, dùng ngòi bút chiến đấu mới khiến ông thôi day dứt và tránh rơi vào sự bi lụy.
Sự thống khổ của một cá nhân thời chinh chiến không chỉ bởi đương đầu với sự sống chết, bất kỳ lúc nào mà còn do phải bị bắt bớ, tù đày, phải lẩn trốn, bị đày đi lao công đào binh. Thơ Trần Vạn Giã trước 1975 là cuốn nhật ký về thân phận, về sự chìm nổi, về nỗi đau tinh thần của con người trong chiến tranh. Chiến tranh không chỉ làm cho con người đau đớn mà còn làm bế tắc, cuồng dư. Sự cuồng dư này có thể xem như một phản ứng, một chấn thương tâm lý.
Vì vậy, thơ không thể gạt bỏ những vấn đề ấy. Ta thấy hình ảnh một nhà thơ trẻ bất cần đời, coi thường công danh, xem đời là hư huyền, muốn tìm về tịch liêu, Lão Trang, tôn giáo, thiền định để có phương tiện giải thoát. Thơ do vậy, là ký ức, là suy niệm, là thân phận của người chứng kiến trong thời khói lửa, đau khổ, lưu ly. Đào Xuân Quý – nhà thơ, dịch giả đã viết ở phần đầu của tập thơ Trầm tư với lá như sau “Trần Vạn Giã đi vào một con đường quá gay go, nguy hiểm đối với người làm thơ xưa nay.
Toàn bộ tập thơ đều là thơ lục bát mang nhiều hơi hướng dân gian, chỉ khai thác một đề tài duy nhất “Tình yêu”, “Gay go”, nguy hiểm vì rất dễ sa vào chỗ đơn điệu, dễ biến thành vè, dễ làm người đọc chán”[10, tr. Trần Vạn Giã đã gây được nhiều ấn tượng tốt nhờ có những câu thơ chân thật, có nghĩa, có tình… Thơ sống với quê hương, dân làng, ruộng đồng và thấu lên tận trời cao. Có những vần thơ êm dịu như lời hẹn hò bên bến nước, sân đình, mở ra một không gian mênh mông mát thơm hương lúa ngọt lành. Ngòi bút cứ trải hồn ra theo những con đường đến những khu rừng, xanh tốt, màu mỡ, những dòng sông nặng trĩu phù xa.
Quê hương là chủ đề không thể thiếu trong thơ Trần Vạn Giã, có lẽ vì sự đồng cảm, sự thấu hiểu những nỗi niềm uẩn khuất nên mạch ngầm thơ ông giản dị mà thân quen đến lạ thường.