Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ Anh Ngọc Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong thơ Anh Ngọc. Chương 3: Ngôn ngữ, biểu tượng và thể loại thơ trong thơ Anh Ngọc. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM THƠ ANH NGỌC 1.1 Một số vấn đề lý luận về tƣ duy thơ 1.1 Tư duy Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần. Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất.
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao.Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của triết học mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật.Đối với tâm lý học thì tư duy được nghiên cứu đặt trên mối quan hệ qua lại với các phương diện khác nhau của nhận thức.Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu ở cơ chế thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của quá trình tư duy của con người…Như vậy tư duy là toàn bộ hoạt động tâm lý của con người, chỉ con người mới có. Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liềnvới hoạt động của các tế bào não, M.Iudin định nghĩa về tư duytrong cuốn Từ điển triết học như sau: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi, gần 16 tỉ tế bào thần kinh”.
Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự việc, hiện tượng mà ta chưa từng biết. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa. 2005): “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - Bộ não người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận v.” 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tư duy nghệ thuật Trong Từ điển thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân nhận định: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” [5]. Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức.Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phương tiện của tư duy là ngôn ngữ.
Cơ sở của tư duy là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể), có thể cảm nhận theo xác suất khả năng và tất yếu. Như vậy điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là sáng tạo từ đó biểu đạt nó qua các biểu tượng nghệ thuật. Mỗi người nghệ sĩ đều có cách lựa chọn biểu tượng khác nhau để bộc lộ tư duy và cách nhìn thế giới của mình.
Mỗi nhà văn nhà thơ lại nhìn thế giới theo những cách riêng biệt, có cá tính tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo. Cái khắc nghiệt của văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất vì vậy cần thực sự say mê tìm tòi và sáng tạo thì cái độc đáo của người nghệ sĩ mới bộc lộ tạo ra được sự độc tôn. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã nhận định: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối sâu sắc của thế giới quan và nhận sinh quan của người sáng tác”[57,tr54].
Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ tư tưởng, tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy. “Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là năng lượng tình cảm còn lại trong hình tượng như là một yếu tố nội 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung, một bộ phận hợp thành” [57,tr54]. Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng. Bằng những độc thoại đối thoại tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động của con người qua những mâu thuẫn xung đột.
Ở tác phẩm trữ tình có khác thế giới quan của con người cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu. Qua đây ta nhận ra thơ trực tiếp gắn với thế giới tâm hồn của con người mà tâm hồn con người lại mang những cung bậc cảm xúc vô cùng phức tạp nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận được. Tư duy thơ Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ phong phú và đa dạng. Mặt khác, phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện có tính giao tiếp xã hội hóa cao độ cho nên thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp.
Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang suy tư. Cái tôi trữ tình trong thơ được bộc lộ phong phú nhờ kho biểu tượng phong phú và đa dạng. Biểu tượng mà nhà thơ sử dụng có khi gần gũi có khi trừu tượng cách xa, có khi chỉ là những sự vật vô cùng nhỏ bé. Tùy vào cảm xúc và dụng ý, trí tưởng tượng chiều sâu suy luận mà thi sĩ chọn cho mình những biểu tượng khác nhau.
Thơ là sự bộc lộ trực tiếp, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn, là tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim. Đặc trưng chủ yếu của thơ là cảm xúc là tình cảm do đó thơ hướng đến chức năng biểu hiện. Ở thơ ta bắt gặp những thăng trầm cảm xúc đó có thể là nỗi niềm riêng tư trong hạnh phúc đôi lứa, về nỗi đau chia ly, về khát vọng sống… Đó cũng là những suy tư về nhân tình thế thái, về số phận con người thăng trầm của xã hội ở đó có tình yêu quê hương đất nước, có niềm tự hào dân tộc…Thơ sẽ tồn tại mãi khi con người còn có nhu cầu bộc lộ cảm xúc vui 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buồn của mình vì vậy thơ có đóng góp lớn và tạo ra tiếng nói rất riêng không thể thiếu của nền văn học dân tộc. Từ những đặc trưng của thơ mà thi sĩ có khả năng liên tưởng phong phú mà đa dạng nhờ đó mà tư duy thơ có khả năng hướng nội, hướng ngoại.Tùy từng thời điểm phong cách riêng mà mà thi sĩ chọn cho mình những cách tư duy phù hợp.
Tư duy hướng nội thường phổ biến trong thơ trung đại và thơ lãng mạn nơi cái tôi thi sĩ lên ngôi. Ở đó tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội tại của mình. Tư duy hướng ngoại phổ biến ở giai đoạn văn học cách mạng, thi sĩ say mê thể hiện cái ta trong mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của cộng đồng. Đối tượng mà tư duy hướng ngoại phản ánh là cuộc sống xã hội được trình bày dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ.
Bắt nhịp với nền thơ ca dân tộc, thơ Anh Ngọc là sự kết hợp hài hòa giữa tư duy hướng nội và tư duy hướng ngoại tạo nên dấu ấn riêng mang đậm nét cá tính. Ông đã diễn giải những từ khúc riêng tư và những đa đoan cháy bỏng của cuộc đời để rồi từ đó gieo vào tâm hồn người đọc những tình cảm yêu mến lạ lùng để lại niềm hoài nhớ mênh mang cho độc giả. Qua đó ta có thể rút ra được rằng: Tư duy nghệ thuật lấy phương tiện tư duy bằng các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được với cơ sở là cảm xúc của người nghệ sĩ thông qua trí tưởng tượng phong phú và sự liên tưởng tinh tế mà người nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tượng, biểu tượng mới. Quan niệm thơ Anh Ngọc 1.1 Tiểu sử Nhà thơ Anh Ngọc tên thật là Nguyễn Đức Ngọc, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1943 tại Nghi Lộc - Nghệ An.
Ông được sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương. Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Công an Nhân dân nhà thơ Anh Ngọc đã từng tâm sự: “Tôi theo nghiệp văn chương như mũi tên đặt sẵn trên cây cung. Không ai bắt đâu, cũng không có ý thức làm văn, mà thật sự có một tình yêu và thiên hướng nằm sẵn trong máu”.Anh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngọc còn có bút danh khác là Ly Sơn. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ông giảng dạy ở trường Thương nghiệp rồi trở thành lính thông tin liên lạc và gắn bó với quân đội.
Ông là cựu chiến binh mặt trận Quảng Trị năm 1972. Anh Ngọc từng là phóng viên báo Quân đội nhân dân, biên tập viên của tạp chí Văn nghệ quân đội; có mặt tại nhiều chiến trường B, K và biên giới (1973-1979). Ông sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện, ký và cả dịch thuật.