Chương 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA LƯU QUANG VŨ VÀ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT KỊCH 1. Con đường từ nhà thơ trở thành một kịch tác gia sân khấu 1.1 Một nhà thơ “Sống hết bài thơ anh đã viết” Trước khi biết đến một Lưu Quang Vũ của sân khấu kịch nói, người ta biết đến một Lưu Quang Vũ nhà thơ tài năng. Lưu Quang Vũ khởi đầu từ thơ và “muốn sẽ làm thơ mãi, nếu như mình còn làm được”. Lưu Quang Vũ yêu thơ, làm thơ từ nhỏ.
Sau này, khi đã chuyên tâm vào sáng tác kịch “tất cả cảm xúc của con người Vũ vẫn là của thi ca”. Ở độ tuổi 20, Lưu Quang Vũ được công chúng biết đến rộng rãi lần đầu tiên trong tư cách một nhà thơ với tập thơ Hương cây in chung trong tập Hương cây - Bếp lửa (1968) cùng nhà thơ Bằng Việt. Tập thơ đầu tay ra đời, “mang hơi thở trẻ trung, hào hoa, giàu xúc cảm” [54, tr. 413] được đón nhận nồng nhiệt.
Ngay cả Hoài Thanh, nhà phê bình có tiếng “kỹ tính” đã “phá bỏ mọi tiền lệ”, đánh giá là một “cây bút trẻ tuổi nhiều triển vọng”. Đó đã thực sự là lời tiên đoán chính xác cho sự nở rộ của tài năng nghệ thuật thơ này. Lưu Quang Vũ là một chàng trai tài hoa và nhạy cảm. Đối với một người như thế, yêu nhiều và được nhiều người yêu là điều dễ hiểu.
Tình cảm gia đình huyết thống trong những vần thơ chân thành, tha thiết là tiền đề quan trọng góp phần tạo nên nguồn cảm xúc tình yêu nồng đượm. Và thơ tình trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn, trong sự nghiệp thơ ca của Lưu Quang Vũ. Với ông, tình yêu vừa là những cung bậc dâng trào, bối rối, nghẹn ngào trong hạnh phúc cũng là những đau khổ, chống chếnh đến tận cùng. Nhưng, như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét, may mắn cho chúng ta ông là một nhà thơ nên hạnh phúc và đau khổ trong tình yêu đều được đưa vào trong thơ, nâng cánh cho những vần thơ bay lên.
Tình yêu đầu đời với tất 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả nỗi đam mê, rối rít đã trở thành nguồn năng lượng cho ông sáng tác Vườn trong phố, Hơi ấm bàn tay,… và sau đó là tập thơ Hương cây: Dưa hấu bổ ra thơm mát suốt ngày dài Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa (Vườn trong phố) Điều đáng nói và cũng đáng khâm phục ở Lưu Quang Vũ là dù thế nào đi nữa, ngay cả “sau này, khi trái tim đã chịu nhiều tổn thương, “tư thế trữ tình” đắm đuối, độ xúc cảm nồng nàn trước tình yêu của ông vẫn không hề thay đổi” [54, tr. Phải chăng vì thế mà cuối cùng, trải qua “những năm đau xót và hy vọng”, sau bao cay đắng, ngọt bùi, lầm lỡ, vụng dại… tâm hồn thơ ấy đã tìm thấy được bến đỗ bình yên cuối cùng của đời mình ở nữ sĩ Xuân Quỳnh. Họ có cùng cảnh ngộ, đến với nhau bằng sự cảm thông, nhưng trên hết là sự đồng cảm của hai tâm hồn đồng điệu, của hai trái tim đã có chung nhịp đập yêu thương. Với Xuân Quỳnh, nhờ có Xuân Quỳnh, vần thơ Lưu Quang Vũ cũng như cả sự nghiệp sáng tác của ông một lần nữa có động lực, có cơ hội để tỏa sáng.
Tình yêu lý tưởng trong một hạnh phúc đời thường khiến Lưu Quang Vũ có thêm nguồn năng lượng để sống và để viết. “Tình yêu giờ đây đã bớt đi sự trẻ trung, sôi nổi nhưng lại thêm phần đằm thắm, sâu sắc” [54, tr. Thơ ông sâu xa và từng trải hơn: Giữa thế giới mong manh nhiều biến đổi Anh yêu em và anh tồn tại (Và anh tồn tại) Tình yêu mang đến cho Lưu Quang Vũ một giai đoạn phát triển đỉnh cao và toàn diện ở cả thơ và kịch. Và nếu như không vì sự ra đi đột ngột của ông cùng với Xuân Quỳnh và con trai út Quỳnh Thơ vào ngày 29 tháng 8 năm 1988 khi tài năng đang ở độ chín thì có lẽ, nền văn học nghệ thuật Việt Nam còn được đón nhận nhiều sáng tác có giá trị khác.
Tại tâm hồn con người đa cảm hay nghĩ xa chuyện phía trước, chuyện đời, chuyện người hay như một 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thứ “linh cảm” cũng không rõ để rồi sau mười lăm năm gắn bó, hai trái tim chung nhịp đập một ngày mùa thu cũng đã cùng nhau ngưng đập. Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh đã “đi bên nhau trên mặt đất” cho đến “Phút cuối cùng tay vẫn ở trong tay”… Nhưng nói về thơ Lưu Quang Vũ, nếu chỉ nói về thơ tình thôi thì không đủ mặc dù từ trước đến nay với phần đông công chúng, đó vẫn là những vần thơ được yêu mến nhất. Bên cạnh một Lưu Quang Vũ đắm đuối trong tình yêu còn là một Lưu Quang Vũ đắm đuối với đời, đắm đuối trong tình yêu nước, thương dân. Những vần thơ viết về quê hương đất nước của Lưu Quang Vũ khi thì ngập tràn trong cảm hứng ngợi ca khi lại đau đáu một nỗi niềm đau xót nhưng vượt lên trên tất cả, vẫn là “Chữ “thương” liền với chữ “yêu”/ Chữ “thương” đi cùng chữ “nhớ”” (Tiếng Việt).
“Đi từ những gì gần gũi, thân thương nhất để viết về quê hương, đất nước - một chủ đề lớn của thơ ca cách mạng nói chung và thơ chống Mỹ cứu nước nói riêng - Lưu Quang Vũ ngay từ đầu đã tạo được dấu ấn về một lối viết tài hoa, nồng nàn cảm xúc” [54, tr. Những vần thơ của thời Hương cây trong trẻo và đắm đuối mang vẻ đẹp lý tưởng và nặng tình yêu quê hương, đất nước: Thoảng mùi hoa thiên lý cửa nhà ai Một tiếng chim khuya gọi mùa vải đỏ Nghe đất thở luống cày hồn hậu lạ Ta muốn thành hạt cốm uống hương đêm (Đêm hành quân) Nhưng rồi đối mặt với hiện thực, cuộc chiến tranh hiện lên tàn khốc, “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/ Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”. Sau Hương cây là khoảng thời gian mười năm Lưu Quang Vũ rơi vào tình cảnh long đong, lận đận, có khi đã “chạm vào bế tắc”: trở về từ quân ngũ, chứng kiến và không thôi ám ảnh về sự thật chiến tranh thảm khốc; hiện thực cuộc sống hỗn độn, hạnh phúc gia đình tan vỡ không thể níu kéo; công việc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bấp bênh; nghèo nàn, hoài nghi, chống chếnh. Thơ ông cũng có nhiều khoảng u ám, nặng nề, hoang mang trước gia cảnh và thời thế “Có những lúc tâm hồn tôi rách nát”, “Tôi biết làm gì tôi biết đi đâu”.
Song, một điều tưởng như nghịch lý lại trở thành có lý khi chính những nếm trải của thế thái nhân tình, những bài học đầu đời đã giúp Lưu Quang Vũ nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống và con người, làm nên những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống tâm hồn và tư duy nghệ thuật. “Từ tình cảm quê hương đất nước, ông đã bắt sâu hơn vào cảm hứng dân tộc, nhân dân” [54, tr29]. Và “Điều kỳ diệu là qua cuộc hành trình máu lửa, hướng cảm hứng sáng tạo về phía nhân dân, gắn bó cuộc đời mình với số phận dân tộc, hồn thơ Lưu Quang Vũ đã lớn lên rất nhiều” [54, tr. Giọng điệu thơ bớt đi sự ngọt ngào, hiền lành, êm ái mà giàu sắc điệu tự vấn đầy trăn trở, suy tư và đau đớn; chất liệu thơ là sự chắt lọc từ những hình ảnh và chi tiết của đời sống hàng ngày, dung dị và chân thực hơn trước rất nhiều.
Cái Tôi riêng đã hòa nhập được vào cái Ta chung, tìm thấy sự hài hòa, ấm áp trong cái Ta chung của dân tộc để Lưu Quang Vũ mang tình yêu hóa thân vào gió, thổi trên đất nước mình. … Để được ôm trọn vẹn nước non này Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá. Để mát rượi những mái nhà nắng lửa Để luôn luôn được trở lại với đời (Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi) “Với Lưu Quang Vũ, thơ là nơi khởi hành cuộc đi tìm lớn nhất, mang sâu sắc nhất ý nghĩa triết học của một người làm thơ - cuộc đi tìm cái tôi thi sĩ qua những nghiệm sinh phải trải trên đường đời thăm thẳm và cũng là nơi hành hương trở về lớn nhất - trở về bản thể thi sĩ của chính mình. Thơ cũng chính là nơi ẩn náu cuối chót của chàng thi sĩ buồn này.
Thơ - với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng của tâm hồn chàng với đời sống” [45]. Bởi vậy nên cũng là điều dễ hiểu khi sau này, hồn thơ ấy vẫn thấm đẫm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong các sáng tác kịch của ông. Thơ nhen nhóm tiền đề cho chất trữ tình trong kịch tạo nên những vở kịch giàu mang sức hút riêng. Tiếng nói trong kịch nhờ thơ vừa mạnh mẽ lại vừa có sức lôi cuốn mãnh liệt.
Thơ Lưu Quang Vũ vừa có cái Tôi trữ tình độc lập vừa có cái Tôi sử thi. Bên cạnh đó, một điều dễ nhận thấy là cái Tôi cá nhân trong thơ Lưu Quang Vũ đặc biệt là giai đoạn của những năm 70 - 75 chứa đựng đầy mâu thuẫn giằng xé. Sự mâu thuẫn bắt nguồn từ hiện thực, từ trái tim của một người luôn đắm đuối với đời nhưng lại phải đối diện với hiện thực tàn nhẫn của cuộc đời. Những mâu thuẫn mang dáng dấp của kịch mà như một mẫu số chung, cuối cùng vẫn chỉ có thể được “mở nút” bằng sự cống hiến: “Không thể ôm cả bầu trời lồng lộng/ Nhưng có thể cầm một chùm quả trên tay/ Có thể trồng thêm một bóng mát cho ngày…” (Bài hát ấy vẫn còn là dang dở).
Tất cả sau này đã được hóa giải ở kịch, loại hình nghệ thuật khiến ông có thể nói nhiều, nói mạnh hơn, có thể giải quyết được một cách triệt để hơn, trực diện hơn những điều mình trăn trở. Thơ Lưu Quang Vũ đánh dấu tiền đề ảnh hưởng đến kịch ở lời thơ rất gần với ngôn ngữ kịch với không ít những vần thơ mang đậm tính đối thoại. Ông cũng có biệt tài đưa chất liệu hiện thực vào trong thơ - một hiện thực như nó vốn có, được cảm nhận bằng tâm hồn, bằng trái tim đa cảm, yêu thương từ cốt tủy - không phải được tô hồng, không phải để hô hào, kêu gọi. Hồ sơ mùa hạ 1972, Khâm Thiên, Nơi tận cùng, Những tuổi thơ, Mặt trời trong nước lạnh, Chiều cuối, Việt Nam ơi…, Những điều xỉ nhục và căm giận… là một số bài thơ tiêu biểu.