CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC THÔNG QUA THÙ LAO LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhu Cầu Nhu cầu được nhắc đến là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Theo định nghĩa của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007), Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…) [7] Nhu cầu được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người mong muốn thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người. Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý.
Động cơ và Động lực Hiểu đúng về động lực lao động sẽ khiến cho các nhà quản lý dẫn dắt điều hành nhân viên một cách thuận lợi hơn. Để hiểu đúng về động lực lao động, ta cần tiếp cận từ thuật ngữ, các liên quan trực tiếp đến động lực nói chung đó là động cơ. Ø Động cơ Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân. Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các 15 cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi: Động cơ thường được che dấu từ nhiều động cơ thực do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội.
Hơn nữa động cơ luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giầu có và muốn thể hiện.Vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy để người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động. Ø Động lực Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. [7] Theo Bùi Anh Tuấn (2012): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. [2] Hai quan điểm trên đều có quan điểm chung rằng động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động, của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Do đó, muốn con ngu ời có đọ ng lực, nhà quản lý cần tạo cho ngu ời lao đọ ng lợi ích để thúc đẩy họ làm viẹ c và hoàn thành tốt co ng viẹ c, mục tie u mà tổ chức đạ t ra. Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến ta ng na ng suất lao đọ ng cá nha n và ta ng hiẹ u quả sản xuất kinh doanh của tổ chức.
Đọ ng lực 16 lao đọ ng xuất hiẹ n trong quá trình lao đọ ng và do các nha n tố be n ngoài tạo ra. Nó kho ng phải là đạ c tính cá nha n. Do vạ y, muốn tạo đọ ng lực cho ngu ời lao đọ ng thì nhà quản lý phải nghie n cứu, tìm hiểu mo i tru ờng làm viẹ c, co ng viẹ c, mối quan hẹ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo đọ ng lực có hiẹ u quả cao nhất. Nói tóm tại động lực có thể được định nghĩa là các yếu tố tâm lý của cá nhân, xác định xu hướng hành vi của người đó trong một tổ chức, mức độ nỗ lực và sự kiên quyết trước mọi trở ngại.
Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ.
Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, hương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Thù lao lao động Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thù lao là công cụ chủ yếu làm đòn bẩy kinh tế. Thông qua thù lao, các nhà quản lý có thể khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, khuyến khích tinh thần trách nhiệm đối với họ.
Cỏ thể nói rằng thù lao lao động bao hàm toàn bộ những lợi ích hay quyền lợi mà Người lao động nhận được khi thực hiện công việc tại tổ chức, lợi ích này được thể hiện thông qua các chính sách tài chính (lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng…) và chính sách phi tài chính (BHXH, du lịch, nghỉ phép, môi trường làm việc…) Liên quan tới chính sách tài chính như tiền lương, Ở Việt nam, hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc 17 tiền lương (dụng ý chỉ lương cơ bản), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi. Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động và phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Như vậy: “Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải xã hội”.
[5] Hiện nay trong nền kinh tế thị trường sức lao động đã trở thành một thứ hàng hoá đặc biệt và được trao đổi mua, bán trên thị trường. Giá trị của loại hàng hoá đặc biệt này chính là giá trị của sức lao động được thể hiện trong giá trị của hàng hoá dịch vụ mà người lao động làm ra tương ứng. Khi đó giá của hàng hoá sức lao động chính là số tiền mà người lao động nhận được cho công sức họ bỏ ra. Vì vậy: bản chất của tiền lương trong nền kinh tế thị trường là giá cả của hàng hoá sức lao động.
[5] Sức lao động là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên tiền lương là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động và là một phạm trù của sản xuất, yêu cầu phải tính đúng tính đủ trước khi thực hiện quá trình lao động sản xuất. Sức lao động là hàng hoá đặc biệt nhưng cũng giống như mọi hàng hoá khác, nên tiền công lao động là phạm trù của trao đổi, nó đòi hỏi phải ngang với giá cả các tư liệu sinh hoạt cần thiết nhằm tái sản xuất sức lao động. Sức lao động là một yếu tố của quá trình sản xuất cần bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lương phải được thực hiện thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân dựa trên hao phí lao động, hiệu quả lao động. Tạo động lực lao động.
Động lực lao động chèo lái quá trình lựa chọn hành vi của người lao động. Khi xuất hiện động lực thì đó sẽ là nhân tố để người lao động quyết định lựa chọn hành vi nhằm đạt được mục tiêu sớm nhất. Trong trường hợp khác, khi người lao động đang thực hiện một hành vi nào đó mà xuất hiện động lực mới, họ sẽ thay đổi hành vị trước nhằm đạt được mục tiêu của bản thân. Động lực lao động dẫn dắt, kéo, đẩy người lao động làm việc theo một hướng tích cực.
Có động lực lao động, nghĩa là người lao động có động cơ và mục tiêu rõ ràng, từ đó sẽ định hướng, lôi kéo, thúc đẩy nhanh quá trình lao động của họ nhằm đạt được mục tiêu nhanh nhất. Động lực lao động tăng cường tính chủ động, say mê lao động, khơi nguồn sáng tạo và kích hoạt các tài năng trong mỗi người lao động. Khi bản thân có động lực lao động, người lao động sẽ chủ động cố gắng trong công việc và từ đó có thể phát huy hết năng lực hiện hữu và tiềm năng trong họ. Động lực lao động giúp người lao động vượt qua những mệt mỏi, giảm mọi căng thẳng và tăng sự thoả mãn trong công việc.
Có động lực lao động, người lao động sẽ có được sự thoải mái, vui vẻ trong công việc. Nhờ đó sẽ làm giảm bớt sự căng thẳng và mệt mỏi cho người lao động. Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc.