Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm tái thẩm dân sự Theo pháp luật Việt Nam, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành theo hai loại thủ tục, đó là thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Thủ tục tái thẩm được quy định khá sớm và luôn được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện tổ chức của các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng, phù hợp với trình độ quản lý của Nhà nước và ý thức pháp luật của người dân, phù hợp với thông lệ quốc tế. Các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tái thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên và xuất bản năm 1992 có đưa ra khái niệm: “Tái thẩm là xét lại một bản án đã xử” [44]. Theo khái niệm này thì tái thẩm được hiểu như một hoạt động của chủ thể, đó là Toà án. Hoạt động này là hoạt động xét lại một bản án đã xử. Thủ tục phúc thẩm cũng là xét lại một bản án đã xử, và thủ tục giám đốc thẩm cũng là việc xét lại một bản án đã xử.
Nên khái niệm như trên chưa giúp người đọc thấy được bản chất của thủ tục tái thẩm và nội hàm của khái niệm “thủ tục tái thẩm” trong tố tụng dân sự. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [14, tr. Với khái niệm này, đã thấy được căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết mới phát hiện nhưng không đưa ra được quan điểm của tác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giả về việc xác định thủ tục tái thẩm là một giai đoạn tố tụng hay một thủ tục tố tụng đặc biệt. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà tòa án và các đương sự đã không biết được khi toà án giải quyết vụ án” [37, tr.
Với khái niệm này, thì đối tượng của việc xét lại theo thủ tục tái thẩm là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện được những tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án nhưng lúc ra bản án, quyết định các đương sự và Toà án đã không thể biết. Do mới phát hiện được những tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và Toà án đã không biết được nên làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trở nên không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, không đúng đắn. Điều 304 BLTTDS quy định tính chất của tái thẩm, đồng thời cũng chính là khái niệm pháp lý về tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó” [22]. Khái niệm pháp lý này tiếp tục được BLTTDS năm 2015 kế thừa và quy định tại Điều 351 [25].
Như vậy, có thể hiểu: Tái thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng tái thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án, các đương sự đã không biết và không thể biết được khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định đó, nhằm đảm bảo sự thật 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của vụ án được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên, để nhận diện đầy đủ bản chất của tái thẩm cần làm rõ đặc điểm của tái thẩm trong tố tụng dân sự. Đặc điểm của tái thẩm Tái thẩm là thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự, tính chất đặc biệt này được hình thành bởi những đặc trưng riêng và thông qua đó có thể phân biệt được thủ tục này với các thủ tục tố tụng khác. Tái thẩm có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, đối tượng của tái thẩm là những bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Trước hết, bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý được Tòa án có thẩm quyền tuyên xử hoặc quyết định theo một trình tự tố tụng do luật định về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi hoặc quan hệ pháp luật phát sinh từ một vụ án cụ thể. Bên cạnh đó, đối với một bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc nào cũng có hiệu lực pháp luật ngay lập tức, tùy vào từng loại bản án, quyết định có thời hạn khác nhau theo luật định. Chẳng hạn, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự sẽ có hiệu lực pháp luật ngay hay bản án dân sự sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án sẽ có hiệu lực pháp luật. Với tái thẩ m chỉ đă ̣t ra vấ n đề kháng nghi ̣đố i với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cho là không đúng với thực tế khách quan do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà trước đó Toà án và các đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ việc dân sự.
Theo quy định của BLTTDS, các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có thể trở thành đối tượng kháng nghị tái thẩm, bao gồm, bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thẩm; quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Thứ hai, tái thẩm không xét xử lại vụ án mà là xem xét tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Như vậy, trước hết phải xem xét tình tiết được phát hiện có phải là tình tiết mới hay không. Tình tiết được coi là mới khi thỏa mãn các điều kiện sau: Tình tiết đó tồn tại trước khi Tòa án ra bản án, quyết định; được phát hiện sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và Tòa án không biết được tình tiết đó khi ra bản án, quyết định.
Sau đó phải xem xét ý nghĩa của tình tiết mới đối với vụ án. Tình tiết mới phải có ý nghĩa làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án thì mới là căn cứ để có thể làm phát sinh tái thẩm. Thứ ba, việc xét lại bản án, quyết định phải dựa trên kháng nghị của người có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cơ sở làm phát sinh thủ tục tái thẩm chỉ có thể là kháng nghị của người có thẩm quyền.
Tuy nhiên, nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là nét đặc thù trong pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở ưu tiên hàng đầu để Tòa án xem xét, kiểm tra lại bản án, quyết định. Không phải đơn đề nghị hoặc văn bản thông báo nào của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng được kháng nghị và đưa ra để Hội đồng tái thẩm xem xét mà còn cần dựa trên các căn cứ kháng nghị theo quy định của pháp luật để người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định. Như vậy, quyền đề nghị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm của đương sự chỉ là cơ sở để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là căn cứ để Hội đồng tái thẩm xác định những tình tiết mới 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng tái thẩm chỉ xem xét lại bản án, quyết định đó tại phiên tòa tái thẩm trên cơ sở quyết định kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị. Thứ tư, phạm vi tái thẩm bị giới hạn bởi phạm vi của kháng nghị. Chỉ có phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị mới được đưa ra xem xét. Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị chỉ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án [22, Điều 296].
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị cũng sẽ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích công cộng [25, Điều 342]. Thứ năm, phiên tòa tái thẩm không mở công khai. Về thành phần tham gia, chỉ đại diện VKS cùng cấp bắt buộc phải có mặt, những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị chỉ được tham gia phiên tòa tái thẩm trong trường hợp Tòa án "xét thấy cần thiết" [22, Điều 292] [25, Điều 338].