Luận văn: Tài nguyên đất nước & nông nghiệp bền vững huyện Yên Phong

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sâu về tài nguyên đất tại Yên Phong, Bắc Ninh. Phân tích hiện trạng, tiềm năng và giải pháp quản lý bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

136
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ về tài nguyên đất Yên Phong File Word

Bài viết này phân tích chi tiết nội dung cốt lõi của luận văn thạc sĩ với đề tài “Đánh giá và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước nhằm phát triển nông nghiệp bền vững huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh”. Đây là một báo cáo khoa học toàn diện, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý đất đai tại một trong những địa phương có tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhất cả nước. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiện trạng, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm hướng tới sử dụng đất bền vững. Bối cảnh của đề tài xuất phát từ áp lực gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, khiến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất và nước, đang bị khai thác thiếu hợp lý và có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Luận văn không chỉ là một công trình nghiên cứu học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần xây dựng kế hoạch sản xuất hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên. Nội dung của tài liệu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về cơ sở lý luận về tài nguyên đất, các phương pháp đánh giá đất đai tiên tiến trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời áp dụng trực tiếp vào điều kiện cụ thể của huyện Yên Phong. Việc tìm hiểu sâu về tài nguyên đất Yên Phong thông qua luận văn này sẽ giúp các nhà quản lý, nhà khoa học và sinh viên có được nguồn tài liệu tham khảo giá trị, đầy đủ và hệ thống.

1.1. Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài có tính cấp thiết cao do huyện Yên Phong đang đối mặt với những thách thức lớn: sự thu hẹp diện tích đất canh tác, suy thoái tài nguyên đất, và ô nhiễm nguồn nước do tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa. Về mặt khoa học, luận văn làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội, đặc biệt là giữa tài nguyên đất, nước và các loại hình sử dụng đất. Công trình này bổ sung phương pháp luận về đánh giá đất đai trên quan điểm sinh thái bền vững, đóng góp vào hệ thống tri thức về quản lý nhà nước về đất đai.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu, đánh giá đặc điểm đất, nguồn nước trong mối quan hệ với môi trường và phát triển kinh tế xã hội tại huyện Yên Phong. Từ đó, đề xuất các định hướng khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý để phát triển nông nghiệp bền vững. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các loại đất, nguồn nước, yếu tố sinh thái nông nghiệp, hệ thống sử dụng đất và các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên tại huyện Yên Phong.

II. Thách thức trong quản lý tài nguyên đất Yên Phong hiện nay

Huyện Yên Phong đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng trong công tác quản lý đất đai, bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế quá nóng. Sự xuất hiện và mở rộng của các khu công nghiệp Yên Phong như Samsung đã tạo ra một cú hích kinh tế, nhưng đồng thời cũng gây ra áp lực khổng lồ lên tài nguyên đất. Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp diễn ra ồ ạt, làm giảm diện tích canh tác và ảnh hưởng đến an ninh lương thực. Biến động sử dụng đất diễn ra nhanh chóng, thường thiếu quy hoạch đồng bộ, dẫn đến tình trạng sử dụng đất lãng phí, manh mún. Bên cạnh đó, tác động của công nghiệp hóa không chỉ dừng lại ở việc chiếm dụng đất. Hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt từ các khu đô thị mới đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm đất và nước ngầm. Theo các nghiên cứu được trích dẫn, chất lượng nước mặt tại một số khu vực đã có dấu hiệu ô nhiễm, đe dọa trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe người dân. Tình trạng suy thoái tài nguyên đất cũng là một vấn đề báo động, biểu hiện qua việc đất bị bạc màu, chai cứng, mất chất hữu cơ do thâm canh quá mức và lạm dụng phân bón hóa học. Những thách thức này đòi hỏi phải có một chiến lược quản lý nhà nước về đất đai hiệu quả và các giải pháp đồng bộ để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.1. Phân tích tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa

Sự phát triển của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã thu hút một lượng lớn lao động, dẫn đến gia tăng dân số cơ học và nhu cầu về nhà ở, dịch vụ. Điều này thúc đẩy quá trình đô thị hóa, làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu và hiện trạng sử dụng đất Yên Phong. Đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa, bị thu hẹp để nhường chỗ cho các dự án công nghiệp, hạ tầng và khu dân cư. Quá trình này tạo ra những mâu thuẫn trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân.

2.2. Hiện trạng suy thoái và nguy cơ ô nhiễm tài nguyên đất

Luận văn chỉ ra rằng, việc sử dụng đất theo hướng thâm canh, độc canh cây lương thực, cùng với việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp đã làm tăng nguy cơ suy thoái. Đất đai có nguy cơ bị nhiễm bẩn các kim loại nặng và hóa chất độc hại từ chất thải công nghiệp chưa qua xử lý. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, không chỉ làm giảm năng suất cây trồng mà còn có thể gây ra các độc tố trong nông sản, ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn và sức khỏe cộng đồng.

III. Phương pháp đánh giá hiện trạng sử dụng đất Yên Phong

Để có cái nhìn toàn diện về tài nguyên đất Yên Phong, luận văn đã áp dụng một hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học bài bản, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Nền tảng của nghiên cứu là việc kế thừa các phương pháp đánh giá đất đai tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là khung phương pháp của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Các phương pháp chính được sử dụng bao gồm: thu thập và phân tích số liệu thứ cấp từ các cơ quan nhà nước, khảo sát thực địa, lấy mẫu đất và nước để phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc phân tích hiện trạng sử dụng đất Yên Phong được thực hiện dựa trên các bản đồ, số liệu thống kê đất đai qua các năm để làm rõ xu hướng biến động sử dụng đất. Các yếu tố tự nhiên như địa hình, địa chất, đặc điểm thổ nhưỡng và khí tượng thủy văn được phân tích chi tiết để xác định các lợi thế và hạn chế. Song song đó, các yếu tố phát triển kinh tế xã hội như dân số, lao động, cơ cấu kinh tế, và cơ sở hạ tầng cũng được xem xét như những nhân tố tác động trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên. Sự kết hợp các phương pháp này cho phép đưa ra một bức tranh tổng thể và khách quan về thực trạng, làm cơ sở vững chắc cho việc đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất hiệu quả trong các chương sau.

3.1. Phân tích điều kiện tự nhiên thổ nhưỡng địa hình

Luận văn đã đi sâu phân tích các đặc điểm tự nhiên của huyện Yên Phong. Về thổ nhưỡng, huyện có các loại đất chính như đất phù sa hệ thống sông Thái Bình, đất xám bạc màu trên phù sa cổ. Mỗi loại đất có đặc tính lý hóa riêng, quyết định đến khả năng canh tác. Địa hình có xu thế dốc từ Tây Bắc xuống Đông và Đông Bắc, tạo điều kiện phát triển đa dạng cây trồng nhưng cũng đặt ra yêu cầu về xây dựng hệ thống tưới tiêu cục bộ.

3.2. Điều tra đánh giá các yếu tố kinh tế xã hội

Nghiên cứu đã đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 19,9%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp - xây dựng (từ 29,6% lên 53,7%). Các yếu tố này cho thấy áp lực to lớn từ các hoạt động phi nông nghiệp lên quỹ đất nông nghiệp, đòi hỏi phải có sự quản lý đất đai chặt chẽ để hài hòa lợi ích.

IV. Cách quy hoạch sử dụng đất bền vững tại huyện Yên Phong

Trên cơ sở phân tích thực trạng và tiềm năng, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp và định hướng chiến lược cho quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Phong đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Mục tiêu tổng quát là khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai huyện Yên Phong để phát triển nông nghiệp bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm chỉ đạo là việc sử dụng đất và nước phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện, đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao đời sống người dân. Một trong những giải pháp trọng tâm là xây dựng các mô hình sử dụng đất bền vững, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái. Thay vì độc canh cây lúa, luận văn gợi ý phát triển các vùng chuyên canh rau an toàn, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, kết hợp mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Về quản lý nhà nước về đất đai, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành luật đất đai, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đặc biệt là trong các khu công nghiệp Yên Phong. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống bản đồ thổ nhưỡng Yên Phong và bản đồ quy hoạch chi tiết để công khai, minh bạch thông tin, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tham gia giám sát.

4.1. Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả

Luận văn đề xuất các phương án chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trên cơ sở tối ưu hóa tài nguyên. Ví dụ, những vùng đất cao, khó tưới có thể chuyển sang trồng cây công nghiệp ngắn ngày hoặc cây ăn quả. Những vùng trũng, sản xuất lúa bấp bênh có thể chuyển đổi sang mô hình lúa - cá. Mục tiêu là tạo ra sản phẩm hàng hóa, giải quyết việc làm và tăng giá trị trên một đơn vị diện tích.

4.2. Giải pháp quản lý bảo vệ tài nguyên nước và môi trường

Bên cạnh đất, giải pháp cho tài nguyên nước cũng được chú trọng. Cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ nguồn thải từ các khu công nghiệp và làng nghề, tránh gây ô nhiễm đất và nước. Kiên cố hóa hệ thống kênh mương, áp dụng các công nghệ tưới tiên tiến (tưới phun, nhỏ giọt) để tiết kiệm nước và nâng cao hiệu quả sử dụng. Đây là nền tảng cho một nền nông nghiệp bền vững thực sự.

V. Kết quả cốt lõi từ luận văn tài nguyên đất huyện Yên Phong

Công trình luận văn tốt nghiệp này đã đạt được nhiều kết quả khoa học và thực tiễn quan trọng. Kết quả nổi bật nhất là việc đánh giá một cách hệ thống và định lượng về tiềm năng đất đai huyện Yên Phong. Luận văn đã xác định và phân loại các đơn vị đất đai, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từng loại đất đối với sản xuất nông nghiệp. Dựa trên phân tích, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho các loại hình sử dụng khác nhau, từ đó khẳng định những mô hình canh tác hiệu quả trên từng vùng. Một sản phẩm quan trọng khác là việc xây dựng hệ thống dữ liệu, bao gồm các bảng biểu và phân tích về hiện trạng sử dụng đất Yên Phong và các nguồn tài nguyên liên quan. Các số liệu về kinh tế - xã hội, thủy văn, thổ nhưỡng được tổng hợp và xử lý, cung cấp một nguồn thông tin đáng tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách. Đặc biệt, phần thực trạng và giải pháp đã chỉ ra rõ những mâu thuẫn cần giải quyết, như xung đột giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ đất nông nghiệp. Các giải pháp đề xuất không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có khả năng ứng dụng cao, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng định hướng sử dụng đất Bắc Ninh nói chung và huyện Yên Phong nói riêng theo hướng bền vững và hiệu quả hơn.

5.1. Đánh giá tiềm năng và mức độ thích nghi của đất đai

Luận văn đã phân tích và chỉ ra tiềm năng, nhược điểm của từng loại đất, nguồn nước. Kết quả cho thấy, bên cạnh tiềm năng phát triển nông nghiệp đa dạng, huyện cũng đối mặt với các hạn chế như đất bạc màu, nguy cơ ngập úng ở vùng trũng và khô hạn ở vùng cao. Đây là cơ sở để đề xuất các loại hình sử dụng đất thích hợp cho từng vùng, nhằm khai thác tối đa tiềm năng và hạn chế rủi ro.

5.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ thổ nhưỡng Yên Phong

Thông qua quá trình nghiên cứu, một hệ thống cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã được thiết lập. Mặc dù luận văn không trực tiếp tạo ra một bản đồ thổ nhưỡng Yên Phong hoàn chỉnh mới, nhưng các phân tích về đặc điểm đất đai cung cấp nền tảng dữ liệu quan trọng để cập nhật và chi tiết hóa các bản đồ hiện có, phục vụ hiệu quả cho công tác quy hoạch sử dụng đất và quản lý tài nguyên.

13/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu tài nguyên đất, nước và phát triển nông nghiệp bền vững 1. Đất và nước trong sản xuất nông nghiệp Đất là môi trường sống, là điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn vong của con người. Đất là tài nguyên vô giá và tài sản quý giá của mỗi quốc gia, dân tộc.

Vì đất là “cơ sở của sản xuất nông nghiệp” là “tư liệu sản xuất đặc biệt” là “đối tượng lao động độc đáo” đồng thời là môi trường sản xuất ra lương thực, thực phẩm với giá thành thấp nhất. Đất là “một nhân tố quan trọng hợp thành môi trường và trong nhiều trường hợp lại chi phối hay hủy diệt các nhân tố của môi trường” nên chiến lược sử dụng đất ngày nay là một bộ phận quan trọng hợp thành của chiến lược nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Những thập kỷ gần đây, dân số Thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy tăng nhu cầu về lương thực và thực phẩm của con người. Tài nguyên đất được khai thác ngày càng mạnh mẽ.

Đồng thời với nhịp độ phát triển nhanh chóng của các cuộc cách mạng về kinh tế và khoa học kỹ thuật đã góp phần quan trọng trong việc tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất đai, một dạng tài nguyên tự nhiên không có khả năng tái tạo. Nông nghiệp là ngành sử dụng hai nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của con người đó là tài nguyên đất và nước. Khi dân số gia tăng mạnh mẽ, nhu cầu lương thực và thực phẩm cho cuộc sống của con người gia tăng một cách nhanh chóng, nông nghiệp có những tác động ngày càng to lớn hơn đến môi trường, sinh thái và vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững được đặt ra và ngày càng được quan tâm của nhiều nhà khoa học và của các nước, các tổ chức trên toàn Thế giới. Julian Dumanski khẳng định: “Nông nghiệp giữ vai trò động lực cho phát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển.

Một nền nông nghiệp bền vững hơn là 5 rất cần thiết để tạo ra những lợi ích lâu dài, góp phần vào phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo”. Cũng theo Dumanski: “Nền tảng của nông nghiệp phát triển bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng gen” và nông nghiệp bền vững đạt được nhờ 3 yếu tố là: “Quản lý đất bền vững, Công nghệ được cải tiến và Hiệu suất kinh tế được nâng cao, trong đó quản lý đất bền vững chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong phát triển nông nghiệp bền vững” [1]. Theo đánh giá của chương trình khoa học công nghệ Nhà nước bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (1995) cho biết hiện nay dưới áp lực tăng dân số và nhu cầu lương thực trên thế giới, tình trạng suy thoái nhiều vùng đất đã diễn ra hàng năm, trong hơn 1,5 tỷ ha đất nông nghiệp trên thế giới đã có khoảng 5-7 triệu ha bị loại bỏ do xói mòn, không sản xuất nông nghiệp được. Nhằm ngăn chặn những suy thoái của tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai sao cho tài nguyên này được khai thác tốt nhất cho nhu cầu hiện tại cũng như gìn giữ cho thế hệ mai sau, công tác nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã được thực hiện từ khá lâu và được xem như là nỗ lực ban đầu và quan trọng của nền khoa học – kỹ thuật loài người.

Những nghiên cứu này khơi đầu trên phạm vi từng quốc gia rồi trên qui mô Thế giới. Hiện nay những kết quả và thành tựu nghiên cứu về đất và đánh giá đất đai được cộng đồng Thế giới tổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức Liên Hiệp quốc như FAO, Tổ chức Giáo dục và Khoa học Liên Hiệp quốc – UNESCO, Trung tâm nghiên cứu Đất Quốc tế - IRSC.như là tài sản tri thức chung của nhân loại. Việc sử dụng đất có thể thay đổi các hệ sinh thái. Nhiều hoạt động sử dụng đất phụ thuộc vào nước.

Do vậy, việc quản lý nước là để duy trì hỗ trợ cho việc quản lý đất bền vững. Sử dụng đất cũng tác động đến yếu tố về dòng chảy của nước và có thể ảnh hưởng đến điều kiện thủy hóa, chẳng hạn như việc đưa vào các chất bẩn dọc đường đi của nước. Vì lý do đó các quyết định về sử dụng đất là một quyết định về nước. 6 Việc sử dụng đất và tài nguyên nước có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Loại đất và cường độ sử dụng đất có ảnh hưởng lớn đến nguồn nước. Cho dù nguồn nước có nguồn gốc tự nhiên hay sinh ra từ các hoạt động của con người thì bất kỳ biện pháp sử dụng đất nào đều có thể gây tác động lớn đến trữ lượng nước và chất lượng nước. Theo tính toán của UNEP, Watergraphic (2008), tài nguyên nước trên thế giới hiện nay là 1,39 tỷ km3, trong đó có khoảng 97% lượng nước của trái đất là nước mặn, con người khó sử dụng được. Phần nước ngọt ít ỏi còn lại có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại.

Hiện nay có khoảng 80 quốc gia lâm vào cảnh thiếu nước dùng trong sản xuất nông nghiệp và các hoạt động khác đối với con người. HanMan Bouwer (1994) cho biết dân số thế giới dự kiến lên 8,3 tỷ người vào năm 2025 và khoảng 10 tỷ người vào năm 2050. Sự tăng dân số thường ở các nước thuộc thế giới thứ 3 chiếm tới 90% dân số thế giới và con người sẽ tiếp tục di cư từ nông thôn ra thành phố, ước tính có 22 thành phố khổng lồ trên 10 triệu dân trong đó thế giới thứ 3 có 18 thành phố. Những thành phố như thế có nhu cầu về nước rất lớn, sản xuất ra lượng nước thải khổng lồ và gây ra nhiều vấn đề.

Nước dùng cho nông nghiệp cần nhiều hơn để có thể cung cấp đủ thức ăn cho dân số ngày càng tăng làm cho sự cạnh tranh về nước ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Lê Văn (1999) cho thấy nước giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế chính trị của các quốc gia trên thế giới. Nước cần thiết cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Tác dụng của nước trong quá trình sử dụng cải tạo đất và suy thoái đất Nước là nhân tố rất quan trọng của độ phì đất và của thực vật.

Để tồn tại hoạt động, sinh trưởng phát triển, thực vật và sinh vật sống trong đất cần có một lượng nước nhất định. Ngày nay chúng ta xác định vai trò của nước trong đất như máu trong cơ thể, nước có liên quan chặt chẽ tới tính chất cơ lý của đất như: độ rắn, tính dính, tính dẻo, tính trương, tính co…Các loại đất khác nhau sẽ có sức giữ ẩm khác nhau. Sức giữ ẩm của đất phụ thuộc vào thành phần cơ giới đất. Đất sét nhiều mùn giữ ẩm tốt hơn đất cát nhiều mùn.

7 Về mối quan hệ giữ đất và nước, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng nền văn minh của một nước là “đất màu mỡ, đất có đủ nước và đất không bị rửa trôi, xói mòn đi đến nghèo kiệt”. Đối với một nước, nguồn nước cũng tương tự như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển…đều là nguồn tài nguyên quý báu. Ngày nay, trong điều kiện phát triển của một nền kinh tế không có một hoạt động nào của con người mà không có mối liên quan tới việc khai thác tài nguyên đất, nguồn nước. Nước là nhiên liệu và là môi trường cho các phản ứng, sinh lý, sinh hóa xảy ra trong đất.

Nước là yếu tố điều hòa nhiệt độ, nó quy định sự điều hòa từ đất và thực vật thông qua sự bốc hơi, phát tán. Khi sử dụng đất không chú ý đến bảo vệ thì dẫn đến tác hại khôn lường. Đó là đất đai bị khô hạn, sa mạc hóa, sự di chuyển cồn cát, mặn hóa, kiềm hóa, xói mòn, lầy thụt. Khi không kiểm soát được sẽ gây ra tác hại nghiêm trọng đó là tạo ra ngập lụt, phá hoại phương tiện sản xuất, mùa màng, tài sản thậm chí đến tính mạng con người.

Nước gây ra xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất, làm cho đất trở nên cằn cỗi hoặc lầy thụt. Không có nước thì đất sẽ trở nên vô dụng, sẽ không có cơ sở để sự sống tồn tại. Đất được coi như là kho để dự trữ nước và tạo nên sự kết hợp hài hòa giữ đất và nước trong sự phát triển nông nghiệp bền vững. Nước là một trong những yếu tố tác động hình thành nên đất, đất mà thiếu nước trở nên khô cằn không tạo ra môi trường thích hợp cho hoạt động sống của vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp, cây không tồn tại được, đến lúc nào đó đất không có nước sẽ trở nên vùng đất chết bị sa mạc hóa, dẫn đến khó tồn tại của hệ vi sinh vật.

Đất mà thừa nước thì trở nên ngập úng, đất bị thoái hóa trở thành vùng đất lầy thụt và glây hóa, hạn chế lớn đến sự phát triển của cây nhất là các cây nông nghiệp. 8 Những vùng đất khi thừa nước gây nên úng ngập, muốn sản suất trồng trọt thì phải tiêu nước. Đất ngập nước chiếm tỷ lệ lớn trong đất trồng lúa. Trên thế giới có 68,7 triệu ha đất trồng lúa chịu ảnh hưởng của ngập ở mức độ khác nhau.

Dregne et al (1991) nghiên cứu đưa ra số liệu (bảng 1.1) cho thấy thế giới có 6.150 triệu ha chiếm 41% tổng diện tích đất đai trên thế giới, khó đưa vào sản xuất nông nghiệp vì đất đai bị khô hạn, thiếu nước. Diện tích đất bị khô hạn phân bố ở các châu lục khác nhau, ở châu Phi có 1.959 triệu ha đất bị khô hạn chiếm 32% tổng diện tích đất bị khô hạn của thế giới, chiếm 66% diện tích đất của châu Phi.949 triệu ha đất bị khô hạn chiếm 32% tổng diện tích đất bị khô hạn trên thế giới, chiếm 46% diện tích châu lục và châu Âu 300 triệu ha đất bị khô hạn chiếm 8,0% diện tích bị khô hạn trên thế giới, chiếm 32% so với châu lục. Diện tích đất có khả năng canh tác trên thế giới thể hiện ở (bảng 1.190 triệu ha, tập trung nhiều nhất châu Phi 734 triệu ha, Nam Mỹ 681 triệu ha, châu Á 627 triệu ha.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ