Chương I: Vấn đề nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận về tín dụng ưu đãi hộ nghèo tại NHCSXH Chương III: Thực trạng tín dụng ưu đãi hộ nghèo tại NHCSXH huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang Chương IV: Tóm tắt, kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ƯU ĐÃI HỘ NGHÈO TẠI NHCSXH 2. Hộ nghèo và sự cần thiết phải giảm nghèo 2. Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân nghèo * Khái niệm Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có điều kiện thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, nhà ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp. - Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, nhà ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp. Như vậy, hộ nông dân nghèo là những hộ nông dân thiếu vốn sản xuất thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất yếu kém, làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày[5].
Theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 thì hộ nghèo ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân là 700.000 đồng/người/tháng trở xuống và từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị [6]. * Đặc điểm của hộ nông dân nghèo - Thứ nhất, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư khác: (các số liệu thống kê cho thấy rằng khoảng 70% hộ nghèo có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn), khả năng tiếp cận đến thông tin và kỹ năng chuyên môn bị hạn chế, thêm nữa tiếng nói ít được coi trọng, họ ít có địa vị trong xã hội. Những điều này là bước cản để họ tìm kiếm công việc tốt hơn trong các ngành trả lương cao. Vì vậy họ thường có thu nhập thấp hoặc thậm chí không có thu nhập mà chỉ phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp, thu nhập không ổn định.
6 - Thứ hai, phần lớn thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu nhất cho cuộc sống. Họ thường có khuynh hướng chi vượt khỏi thu: Do nguồn thu nhập ít ỏi nên hầu như phần lớn thu nhập chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu ăn uống hằng ngày của người nghèo và đa phần chưa biết cách quản lý kinh tế cũng như cách thức làm ăn hợp lý. Thực tế cho thấy tình trạng chi tiêu vượt quá mức thu nhập dẫn đến việc vay nợ chồng chất của hộ nghèo. Nên trong quá trình làm ăn họ gặp nhiều khó khăn và ít tận dụng được các cơ hội từ bên ngoài.
- Thứ ba, phần đông họ là những gia đình đông con, số lượng nhân khẩu trong gia đình cao hơn bình quân chung: Hệ quả là quy mô gia đình càng lớn dẫn đến thu nhập bình quân đầu người sẽ giảm và khả năng nghèo đói của hộ càng cao. Các hộ gia đình đông con và có ít lao động dẫn đến tỷ lệ ăn theo trong gia đình cao, phần lớn hộ nghèo là những hộ có tỷ lệ ăn theo cao. - Thứ tư, cuộc sống của người nghèo thường phải phụ thuộc người khác: như phải vay vốn với lãi suất cao chỉ để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu, họ dễ bị bọn chủ nợ bóc lột một cách dễ dàng; Đối với những hộ nghèo mà nguồn thu nhập chủ yếu là từ lao động làm thuê thì phải phụ thuộc vào nhu cầu công nhân và từng thời điểm, mùa vụ cần thuê lao động. Hộ nghèo dễ bị ảnh hưởng trước những biến động của thị trường, giá cả, sản phẩm làm được bán ra thì rẻ trong khi mua vào thì hết sức đắt đỏ.
- Thứ năm, cơ hội tiếp cận giáo dục và các dịch vụ xã hội của những người nghèo rất khó khăn: Thu nhập của người nghèo phần lớn sử dụng cho nhu cầu về ăn uống và sinh hoạt, còn chi phí cho giáo dục, y tế, văn hóa…rất eo hẹp. Do đó ở những hộ nghèo, trình độ học vấn của chủ hộ và con em họ thường rất thấp, trẻ em bỏ học giữa chừng chiếm tỷ lệ cao. Sự tiếp nhận y tế, văn hóa đối với người nghèo là rất hạn chế, vì vậy họ thường có nguy cơ mắc bệnh cao và kéo dài do không được chữa trị kịp thời, đúng cách. Với chế độ ăn uống không đầy đủ nên họ thường bị suy dinh dưỡng, đặc biệt là trẻ em.
Và vì mục đích kiếm kế sinh nhai nên họ thường chấp nhận làm các công việc nặng nhọc, độc hại, dễ xảy ra tai nạn lao động. Cơ hội tiếp cận giáo dục và các dịch vụ xã hội thấp vừa là nguyên nhân, hệ quả của nghèo đói. - Thứ sáu, thất nghiệp và việc làm bấp bênh là dấu hiệu đặc trưng cho tình trạng việc làm của hộ nghèo ở cả thành thị lẫn nông thôn: Người nghèo ở thành thị thường buôn bán dịch vụ nhỏ với quy mô gia đình nên chủ yếu là những công việc không đòi 7 hỏi tay nghề cao, mang tính chất thu nhập thấp và không ổn định. Người nghèo ở nông thôn sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp có giá trị thu nhập thấp, mang tính thời vụ và chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nên tình trạng thiếu việc làm khi chưa đến mùa vụ xảy ra thường xuyên.
- Thứ bảy, người nghèo sống trong điều kiện sinh thái và khí hậu rất đa dạng: Từ những vùng đất đai màu mỡ, khí hậu tương đối thuận lợi đến những vùng dân cư thưa thớt, đất đai kém màu mỡ. Ở những vùng có mật độ dân số cao (hơn 300 người/km2) khoảng 40% dân số sống trong cảnh nghèo đói, tỷ lệ này cũng khoảng 40% ở những vùng có mật độ dân số thấp (dưới 150 người/km2). Chuẩn mực xác định nghèo đói Ở Việt Nam đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn để đánh giá giàu nghèo như mức thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chi tiêu gia đình, hưởng thụ, văn hoá, y tế. Trong đó mức thu nhập là chỉ tiêu quan trọng nhất.
Bộ Lao động thương binh và Xã hội là cơ quan thuộc Chính phủ được Nhà nước giao trách nhiệm nghiên cứu và công bố chuẩn nghèo của cả nước từng thời kỳ. Xác định chuẩn nghèo của Việt Nam: Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ mục đính khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐTBXH hội công bố; chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới đưa ra để đánh giá nghèo đói trên góc độ vĩ mô. Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia: Bộ LĐTBXH là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ.
Lúc đầu nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 6 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau. Quy định về chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia Mức thu nhập Chuẩn nghèo đói qua các giai đoạn Phân loại người nghèo đói BQ/người/tháng Đói (KV nông thôn) Dưới 8 kg 1993-1995 Đói (KV thành thị) Dưới 13 kg (Mức thu nhập quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 kg Đói Dưới 13 kg (Tính cho mọi khu vực) (45.000 đồng) Nghèo Dưới 15 kg (KV nông thôn miền 1996-2000 (55.000 đồng) Dưới 25 kg Nghèo (KV thành thị) (90.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn miền Dưới 80.000 đồng núi, hải đảo) 2001-2005 (Mức thu nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn đồng Dưới 100. 000 đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng Mức thu nhập Chuẩn nghèo đói qua các giai đoạn Phân loại người nghèo đói BQ/người/tháng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 Hộ cận nghèo (KV thành thị) đồng Nghèo (KV Nông thôn) 700.000 đồng/người/tháng 2016 - 2020 Nghèo ( KV thành thị) 900.000 đồng/người/tháng (Mức thu nhập được tính bằng tiền) Hộ cận nghèo (KV Nông thôn) 1.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo (KV thành thị) 1.000 đồng/người/tháng Nghèo (KV Nông thôn) 1.000 đồng/người/tháng 2021 - 2025 Nghèo ( KV thành thị) 2.000 đồng/người/tháng (Mức thu nhập được tính bằng tiền) Hộ cận nghèo (KV Nông thôn) 1.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo (KV thành thị) 2.000 đồng/người/tháng (Nguồn: Phòng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) 9 2. Đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt Nam Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp.
Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình. Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau: - Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ sinh thái bền vững. Do sản xuất nông lâm nghiệp chịu rủi ro nhiều, để chống lại rủi ro đó, phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Trong từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, rải thời vụ, thời tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế.
Trong hệ thống nông nghiệp của hộ ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành hệ sinh thái bền vững. - Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn vị xã hội với những đặc trưng riêng của nó.