Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước khu vực Đông Nam Á. Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan lý thuyết 1.1 Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Việc quốc tế hóa thị trường đã khuyến khích các công ty xây dựng cách tiếp cận đa dạng để kinh doanh quốc tế, dẫn đến hoạt động rộng lớn như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Tồn tại nhiều định nghĩa về FDI, chẳng hạn theo Griffin & Pustay (2007), FDI được xem là việc kiểm soát 10% hoặc hơn chứng khoán có quyền biểu quyết của doanh nghiệp hoặc các lợi ích tương đương trong một doanh nghiệp chưa hợp nhất. Farrell (2008) định nghĩa FDI như là một gói vốn, công nghệ, quản lý và điều hành cho phép công ty có thể hoạt động và cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong một thị trường nước ngoài. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) định nghĩa: “đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp” Tổ chức thương mại Thế Giới (World Trade Organization, WTO) cho rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.2 Khái niệm tăng trƣởng kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian. Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm.
Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng). “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”, Simon Kuznet (1966). Hay như định nghĩa do Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) đưa ra: “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Các nhà kinh tế học cổ điển đã sử dụng hai chỉ tiêu: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người (GNP/người) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người (GDP/người) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế.3 Các nhân tố tác động đến tăng trƣởng kinh tế Hiện nay có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhưng tựu chung lại gồm có các nhân tố cơ bản sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực; Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế.
Theo Schultz (1961), vốn con người bao gồm thể trạng, trình độ học vấn, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động. Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”. Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, vốn đầu tư; Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình sản xuất.
Vốn đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển muốn tích lũy vốn trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại. Vốn đầu tư của toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm cả lượng vốn đầu tư để phát triển lợi ích chung của toàn xã hội. Đó là lượng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ đầu tư.
Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn, viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP.
Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là muốn tăng 1% GDP thì vốn đầu tư phải tăng 3%. Thứ ba, tiến bộ công nghệ; Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng vì nó góp phần làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tiết kiệm lao động và vốn trên sản phẩm nên cùng lượng chi phí nhưng sản phẩm tạo ra nhiều hơn và mở ra các ngành nghề và sản phẩm mới. Ngày nay với đà phát triển công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. đã góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất.
Thứ tư, xuất khẩu; Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế được thuật ngữ kinh tế gọi là “export-led growth”, nghĩa là tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu. Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng. Xuất khẩu làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa. Việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng nguồn lực và cạnh tranh của quốc gia.
Xuất khẩu làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài. Xuất khẩu giúp giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại. Xuất khẩu thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất và cuối cùng xuất khẩu tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thứ năm, tài nguyên thiên nhiên; Mặc dù tiến bộ độ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển và được áp dụng sâu rộng trong sản xuất.
Các yếu tố nhập lượng có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn đóng vai trò quyết định trong sản xuất sản phẩm của ngành và quốc gia (nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng …). Thực tiễn minh chứng quốc gia nào có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu về trữ lượng và chất lượng sẽ có nhiều thuận lợi trong thu hút FDI và ngược lại.2 Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đến tăng trƣởng kinh tế Trong sự biến động của các dòng vốn vào những năm 1990, FDI là dòng vốn chính chảy vào các nước đang phát triển. Không giống như nhưng dòng vốn khác, FDI ít biến động hơn và không thể hiện những xu hướng chu kỳ.
Do đó FDI trở thành dòng vốn được ưa thích ở những nước đang phát triển. Dòng vốn FDI tăng nhanh chóng ở khắp các khu vực trên thế giới trong giai đoạn những năm 1980 và 1990 đã tạo nên những cuộc tranh cãi về lợi ích và chi phí của dòng vốn này. Có một số luận điểm cho rằng, với một mức độ phát triển nhất định và một thể chế phù hợp, FDI có thể đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo nên một môi trường kinh tế tốt hơn. Mặt khác, FDI vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như làm suy yếu cán cân thanh toán do việc chuyển lợi nhuận từ nước nhận đầu tư về nước đầu tư, tác động tiêu cực đến khả năng canh trạnh của các doanh nghiệp trong nước.
Hiện tại, có một quan điểm chung cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng ở những quốc gia đã đạt được một mức độ phát triển tối thiểu về giáo dục, công nghệ và cơ sở hạ tầng. Do thâm hụt tiết kiệm và thiếu hụt thanh khoản ở các nước đang phát triển, FDI được xem là một nguồn quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn mới cả về vật chất lẫn con người (Busse and Groizard, 2008). FDI được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng thông qua sự gia tăng nguồn vốn ở nước nhận đầu tư và gián tiếp thông qua phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ tiên tiến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển cho rằng tiến bộ công nghệ và lực lượng lao động là yếu tố ngoại sinh, FDI chỉ làm tăng sản lượng mà không giúp tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. FDI chỉ có thể kích thích tăng trưởng trong dài hạn thông qua tác động lên việc phát triển công nghệ và lực lượng lao động (Solow, 1956). Trái ngược với mô hình tăng trưởng tân cổ điển, các mô hình tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh rằng FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn thông qua các yếu tố như nghiên cứu và phát triển (Research and Development, R&D), nguồn nhân lực và hiệu ứng tràn (Romer, 1986; Lucas, 1988; Grossman và Helpman, 1991).