Chương 1: Lý luận chung về sửa đổi Hiến pháp; Chương 2: Thực tiễn sửa đổi Hiến pháp 1992 (lần sửa đổi 2013); Chương 3: Sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam – một số nhận định và đề xuất. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1. Khái quát chung về sửa đổi hiến pháp 1. Khái niệm sửa đổi hiến pháp Thuật ngữ “Hiến pháp” có gốc La tinh là “Constitutio” xuất hiện từ rất xa xưa với nghĩa: xác định, quy định [5, tr71].
Nhà nước La Mã cổ đại dùng thuật ngữ này để chỉ các văn bản quy định của Nhà nước. Nhưng với nghĩa hiện nay, Hiến pháp được hiểu là một đạo luật cơ bản của một quốc gia do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Mọi cá nhân, cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ hiến pháp. [7, tr13] - Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành, thì sửa đổi được hiểu là “Thay đổi, thêm bớt cho phù hợp với yêu cầu đã khác trước”.[26, tr1128] - Cũng theo cuốn từ điển này, thì Hiến pháp được hiểu là “đạo luật cơ bản của nhà nước quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, tổ chức bộ máy nhà nước”.[26, tr565] - Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản Đại Học Quốc gia thì Sửa đổi hiến pháp là “việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành”.
[23, tr412] - Theo cuốn giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội thì Sửa đổi hiến pháp là một quy trình đặc biệt đặt ra các quy tắc trong việc sửa đổi hiến pháp. Việc sửa đổi hiến pháp đặt ra khi đã có Hiến pháp, tức là sửa đổi những quy định của bản Hiến pháp hiện hành. Nguồn gốc của việc sửa đổi thường xuất phát từ việc những quy định Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp với những thay đổi của đời sống thực tiễn, nhưng cũng có thể xuất phát từ một sự áp đặt từ bên ngoài hoặc do ý chí chủ quan của một/hoặc một nhóm người”. [5, tr95] - Cũng liên quan đến khái niệm sửa đổi hiến pháp, trong cuốn ABC về Hiến pháp của Nhà xuất bản Thế giới thì “Sửa đổi hiến pháp là việc điều chỉnh hoặc bổ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sung thêm một số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành.
Trong các xã hội dân chủ, hiến pháp ra đời nhằm quy định các quy tắc trách nhiệm, giới hạn quyền lực của Nhà nước nhằm bảo đảm chủ quyền của nhân dân và các quyền, tự do của con người. Sau khi ra đời, theo thời gian, các quy định của hiến pháp có thể phải sửa đổi để phù hợp với những biến động của cuộc sống”. [7, tr40] Tổng hợp các quan điểm và khái niệm ở trên, theo tác giả luận văn, khái niệm sửa đổi hiến pháp có thể được hiểu là việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành. Nguồn gốc của việc sửa đổi thường xuất phát từ việc những quy định Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp với những thay đổi của đời sống thực tiễn, nhưng cũng có thể xuất phát từ một sự áp đặt từ bên ngoài hoặc do ý chí chủ quan của một hoặc một nhóm người.
Lý do sửa đổi hiến pháp Hiến pháp như đã biết, là đạo luật có hiệu lực pháp lý tối cao của quốc gia, chính vì vậy hiến pháp thường có tuổi thọ cao và ít thay đổi so với các đạo luật khác. Tuy nhiên, ít thay đổi không có nghĩa là không thay đổi. Thực tiễn cho thấy, hiến pháp của nhiều quốc gia, cho dù là những quốc gia được xem là cha đẻ của hiến pháp, có nền lập hiến xuất hiện từ rất sớm như Mỹ thì bản Hiến pháp của họ cũng không tránh khỏi những lần phải sửa đổi bởi đơn giản“Hiến pháp là bản văn của con người, con người có khuyết tật thì hiển nhiên bản văn của họ không tránh khỏi những khuyết tật”. Như vậy, dù là bản hiến văn ra đời rất phù hợp với xã hội đương thời hay bản hiến văn ngay từ khi ra đời đã mang trong mình những khiếm khuyết thì theo thời 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gian bản hiến văn đó đều phải sửa đổi để phù hợp với xã hội đương thời và những nhu cầu thực tiễn của con người.
Giới hạn, phạm vi sửa đổi hiến pháp Việc sửa đổi hiến pháp là sự kiện hệ trọng của đời sống xã hội, do vậy, các nhà lập hiến cũng vạch ra những giới hạn nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị quốc gia cũng như bản chất của thể chế chính trị. Nhìn chung, người ta khái quát thành ba loại giới hạn của việc sửa đổi hiến pháp như sau: Một là, giới hạn về thời gian: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi trong một thời gian xác định. Đó thường là khoảng thời gian được dành cho việc hình thành các thiết chế hiến định sau khi hiến pháp sửa đổi được ban hành; do vậy, rất cần duy trì sự ổn định về mặt thể chế (Hiến pháp Hy Lạp năm 1975, Bồ Đào Nha năm 1976, Philippines năm 1987, Brazil năm 1988. Về điểm này, hợp lý nhất là nên cấm sửa đổi hiến pháp trong thời hạn 5 năm kể từ khi được ban hành, trừ những thay đổi mang tính chất biên tập (về mặt kỹ thuật); [10] Hai là, giới hạn về tình huống (hoàn cảnh): Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi khi xuất hiện những tình huống nhạy cảm về chính trị như khủng hoảng chính phủ, an ninh quốc gia bị đe dọa, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm, tình trạng chiến tranh, thảm họa về thiên tai, dịch bệnh… (Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, Rumani Năm 1991, Pháp.); [10] Ba là, giới hạn về nội dung: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi một số nội dung có liên quan đến việc xác định nền tảng của chế độ Nhà nước như bản chất dân chủ của thể chế chính trị, hình thức chính thể, hình thức cấu trúc Nhà nước, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống chiến tranh, chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo… (Hiến pháp Nga, Pháp, Italia năm 1947, Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, Thái Lan năm 2007.
Việc hạn chế sửa đổi các nội dung nhất định trong hiến pháp chủ yếu nhằm duy trì các nguyên tắc căn bản nhất của một xã hội dân chủ (dân chủ, cộng hòa, pháp quyền, tôn trọng phẩm giá con người. Những nguyên tắc này là bất di bất dịch không thể thay đổi trong hiến pháp. [7, tr59] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm vi sửa đổi hiến pháp: Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mà hiến pháp có thể được sửa trên toàn diện ở tất cả các chương, điều khoản của hiến pháp cũ; cũng có thể chỉ được sửa một phần ở một số chương, điều hay một số chế định… Cụ thể: Một là, sửa đổi bằng việc ban hành một bản văn hiến pháp có nội dung bao gồm những điều khoản hiến định đã được sửa đổi trực tiếp do bản thân chính quyền hợp hiến tiến hành xuất phát từ sự biến chuyển đời sống kinh tế - xã hội mà không xuất phát từ việc thay đổi chế độ chính trị (nhiều người coi đây như phiên bản mới của hiến pháp); Hai là, sửa đổi bằng việc ban hành các điều khoản bổ sung (còn gọi là tu chính án) mà không thay đổi trực tiếp bản văn hiến pháp nguyên thủy; Ba là, sửa đổi bằng hoạt động giải thích hiến pháp cho phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội mà không làm biến dạng tinh thần hiến pháp. Hiện nay ở nước ta, về mặt pháp lý, việc sửa đổi hiến pháp đã được quy định dù vậy vẫn còn sơ sài, tản mạn ở một số văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội vẫn chưa ban hành một văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt nào về vấn đề này.
Lỗ hổng pháp lý khá nghiêm trọng này khiến thực tiễn hoạt động lập hiến nói chung, sửa đổi hiến pháp nói riêng ở nước ta thiếu tính thống nhất và ổn định, chủ yếu dựa vào điều kiện, hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn lịch sử. Quy trình sửa đổi hiến pháp Việc sửa đổi hiến pháp chỉ thực hiện sau khi có bản hiến pháp - sản phẩm của quy trình ban hành hiến pháp, như là một sự tu chính bản hiến pháp hiện hành, bảo đảm phù hợp, cập nhật với những đổi thay của xã hội. Có nghĩa là, quy trình sửa đổi hiến pháp bao giờ cũng có sau quy trình ban hành hiến pháp. Chính vì vậy, nó được chú ý hơn về mặt chủ thể, quy trình và cách thức tiến hành.
Quy trình sửa đổi hiến pháp được hiểu một cách chung nhất là trình tự, thủ tục sửa đổi được quy định thành các khâu, các bước tiến hành chặt chẽ với những chuẩn mực chung theo những đòi hỏi dân chủ và tiêu chí của Nhà nước pháp quyền hiện đại. Thông thường quy trình sửa đổi hiến pháp được tiến hành theo trình tự, thủ tục rất quy củ và chặt chẽ như sau: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ thể và sáng quyền sửa đổi hiến pháp: Chủ thể có thẩm quyền sửa đổi hiến pháp là chủ thể đặc biệt, gần như chủ thể ban hành hiến pháp. Một số nước quy định phải do nhân dân quyết định, thông qua hình thức trưng cầu ý dân (như Pháp, Nga, Thái Lan, Philippin…). Tuy nhiên, đa số các nước quy định cho các cơ quan đại diện (Đại hội nhân dân, Quốc hội/Nghị viện lập pháp) thực hiện việc này với thủ tục đa số đặc biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu.
Nhiều nước còn kèm theo thủ tục sau đó là phải được nguyên thủ quốc gia (Vua, Tổng thống) xem xét công bố hoặc đưa ra cho nhân dân phúc quyết (như là phê chuẩn). [10] Sáng kiến đề nghị và quyết định việc sửa đổi hiến pháp: quyền này thuộc nhiều chủ thể khác nhau từ nghị viện và các đại biểu, các đảng phái chính trị, chính phủ (ngành hành pháp) cho đến nhân dân, cử tri như ở Thụy Sỹ, Cộng hòa liên bang Đức, một số bang của Mỹ. [10] Soạn thảo DTSĐHP: Việc soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp thường được giao cho một Hội nghị hiến pháp bao gồm đại diện rộng rãi các tầng lớp, đảng phái và các lãnh thổ (bang, tỉnh) - do nhân dân bầu ra.